Điểm báo ngày 08 tháng 01 năm 2014 (08-01-2014)


1. Hướng dẫn xử phạt VPHC trong lĩnh vực chứng khoán

 (Chinhphu.vn) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 217/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2014.

 

Ảnh minh họa

Thông tư quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán là 02 năm kể từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm đối với vi phạm hành chính đã kết thúc hoặc kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính là ngày lập biên bản ghi nhận hành vi vi phạm hành chính đó.

Về việc xác định mức tiền phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, Bộ Tài chính hướng dẫn: Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số mức tiền phạt tối thiểu và mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

Thông tư cũng hướng dẫn thực hiện việc thu hồi chứng khoán đã chào bán, phát hành và hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán quy định tại Điều 3 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP.

Theo đó, trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải công bố trên 01 tờ báo Trung ương trong 03 số liên tiếp và trên trang thông tin điện tử của công ty về việc hoàn trả tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của Ngân hàng mà cá nhân, tổ chức vi phạm mở tài khoản thu tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc. 

Khoản tiền lãi của tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải trả cho nhà đầu tư được tính từ ngày nhà đầu tư nộp tiền đến ngày cá nhân, tổ chức vi phạm trả lại tiền cho nhà đầu tư. 

Trường hợp nhà đầu tư đã chuyển nhượng chứng khoán mua trong đợt chào bán nêu trên một cách hợp lệ, cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm xác định các nhà đầu tư đã nhận chuyển nhượng trước thời điểm thông báo hoàn trả tiền và số lượng chứng khoán hiện đang nắm giữ để thông báo cho nhà đầu tư đó được biết...                                                            

Thanh Trúc

http://baodientu.chinhphu.vn

 

2. 6 Luật có hiệu lực từ 1/1/2014

Áp dụng mức thuế suất phổ thông 22%

Luật sửa đổi, bổ sung bổ sung một số điều Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung quy định miễn thuế đối với: Thu nhập từ hoạt động sản xuất muối của hợp tác xã; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản của doanh nghiệp ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Để thực hiện chiến lược cải cách thuế, đồng thời phù hợp với xu thế cải cách thuế của các nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã sửa đổi quy định về thuế suất , theo đó, giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống còn 22%; riêng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 20% ngay từ 1/7/2013.  Từ ngày 01/01/2016 mức thuế suất phổ thông là 20% và mức thuế suất ưu đãi 20% được điều chỉnh giảm xuống còn 17%.

Quy định mới về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực từ 1/1/2014, trong đó có quy định mới về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT

Cụ thể, về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, Luật quy định rõ: Cơ sở kinh doanh có doanh thu hằng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ 1 tỷ đồng trở lên (trừ hộ, cá nhân kinh doanh và trừ trường hợp có đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ). 

Như vậy, từ ngày 1/1/2014, hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp sẽ không thuộc đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ, kể cả trường hợp có doanh thu hằng năm trên 1 tỷ đồng.

Giáo dục quốc  phòng và an ninh là môn học chính khóa đối với học sinh THPT

Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh gồm 8 Chương, 47 Điều.

Trong đó, đối với học sinh tiểu học, trung học cơ sở, để phù hợp với lứa tuổi, trình độ nhận thức và yêu cầu giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật quy định giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng này được thực hiện lồng ghép thông qua nội dung các môn học để học sinh hình thành những cơ sở hiểu biết ban đầu về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân; ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

Đối với trung học phổ thông; trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, giáo dục quốc phòng và an ninh được xác định là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục.

Thu hút nhân tài khoa học công nghệ

Với 11 Chương, 81 Điều, Luật Khoa học và Công nghệ có nhiều nội dung mới, quy định rõ hơn về nhiệm vụ, nguyên tắc của hoạt động khoa học, công nghệ; chính sách của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ...

Một trong những điểm mới của Luật là quy định ưu đãi trong việc sử dụng nhân lực, nhân tài khoa học, công nghệ; thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài....

Khuyến khích giải quyết mâu thuẫn bằng hình thức hòa giải ở cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở gồm 5 Chương, 33 Điều. Theo đó, việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trừ các trường hợp sau: mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật đang được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Luật Hòa giải ở cơ sở quy định về chính sách của Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác; khuyến khích những người có uy tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư tham gia hòa giải ở cơ sở và tham gia các hình thức hòa giải thích hợp khác.

Nhà nước có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Một điểm mới quan trọng của Luật so với Pháp lệnh  đó là quy định Nhà nước có chính sách để phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở, thể hiện đúng bản chất của hòa giải ở cơ sở là tự nguyện, tự quản.

Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về dân cư

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, đã sửa đổi 5/42 điều của luật hiện hành, khắc phục những bất cập nổi cộm như tình trạng di dân tự phát vào các thành phố lớn, mất cân đối về phân bố dân cư và an sinh xã hội… , nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về dân cư, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Hoàng Diên

http://baodientu.chinhphu.vn

 

3.  Chế tài mới xử phạt buôn bán hàng giả, hàng cấm

 (Chinhphu.vn) – Theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, cá nhân thực hiện các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm sẽ bị phạt tiền tối đa 200 triệu đồng, vi phạm này của tổ chức sẽ phạt đến 400 triệu đồng.

 

Cá nhân thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm sẽ bị xử phạt đến 200 triệu đồng

Ảnh minh họa

Một trong những quan điểm quan trọng xuyên suốt Nghị định 185/2013/NĐ-CP là các quy định trong Nghị định đều nhằm bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người kinh doanh và người tiêu dùng; góp phần đảm bảo ổn định thị trường, phát triển kinh tế xã hội và thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao ý thức pháp luật của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Trên cơ sở nguyên tắc “đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”, Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định, cá nhân thực hiện các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm sẽ bị phạt tiền tối đa 200 triệu đồng, vi phạm này của tổ chức sẽ áp dụng mức phạt tối đa 400 triệu đồng.

Cụ thể, cá nhân có hành vi buôn bán hàng cấm giá trị từ 100 triệu đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị phạt tiền đến 100 triệu đồng. Mức phạt tiền sẽ là 200 triệu đồng nếu là hành vi sản xuất hàng cấm. Các vi phạm này của tổ chức sẽ bị phạt tiền gấp đôi.

Các hành vi vi phạm hành chính khác trong hoạt động thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử thì mức phạt cao nhất là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.

Ví dụ, trong quy định để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì hành vi vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa trong trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện liên quan có giá trị từ 2 tỷ đồng trở lên sẽ bị xử phạt từ 70 đến 100 triệu đồng.

Cũng với nguyên tắc như đã nêu trên, mức độ nghiêm khắc và tính răn đe, phòng ngừa của chế tài phạt tiền đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại do tổ chức thực hiện đã tăng lên đáng kể.

Bên cạnh đó, để phù hợp với tính chất, đặc điểm của các chủ thể hoạt động thương mại trên thị trường, tại Nghị định này, các hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối được xác định là “cá nhân” trong trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thu hồi tên miền của website vi phạm

Ngoài việc quy định các hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động có thời hạn phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, nhiều biện pháp khắc phục hậu quả mới đã được bổ sung vào Nghị định 185/2013/NĐ-CP, chẳng hạn như: buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; thu hồi tiêu hủy hoặc buộc thu hồi loại bỏ yếu tố vi phạm; nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính; buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn.

Đặc biệt, đối với hành vi tổ chức mạng lưới kinh doanh, tiếp thị cho dịch vụ thương mại điện tử trong đó mỗi người tham gia phải đóng một khoản tiền ban đầu để mua dịch vụ và được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc vận động người khác tham gia mạng lưới, hay hành vi khách hàng trên website… thì ngoài việc bị phạt tiền tối đa đến 50 triệu đồng, còn bị buộc thu hồi tên miền “.vn” của website thương mại điện tử...

Mức xử phạt cũng tương tự đối với hành vi lừa đảo khách hàng trên website thương mại điện tử; lợi dụng danh nghĩa hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn trái phép, kinh doanh hàng giả, hàng hóa dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh khác.

Mức phạt theo giá trị hàng hóa, lĩnh vực vi phạm

Để phân hóa và đấu tranh có hiệu quả các vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tính chất, mức độ nghiêm khắc của các hình thức xử phạt đã được xây dựng tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trên cơ sở có sự phân biệt về quy mô, giá trị tang vật vi phạm, về loại hàng hóa, dịch vụ hay lĩnh vực vi phạm...

Quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với việc sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, kinh doanh hàng hóa nhập lậu... cũng bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch và tính liên thông trong chính sách xử lý hành chính và hình sự.

Ngoài ra, do được ban hành thay thế cho 7 Nghị định nên Nghị định 185/2013/NĐ-CP có số lượng lớn các điều khoản quy định về các hành vi vi phạm và hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng tương ứng.

Tuy có số lượng lớn các điều khoản, nhưng những quy định trong Nghị định đã được rà soát kỹ, được cập nhật, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm vừa không chồng chéo, trùng lặp hoặc mâu thuẫn với các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác vừa không bỏ sót hành vi vi phạm.

Theo đó, nhiều hành vi vi phạm hành chính mới đã được bổ sung như các vi phạm trong sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá thương mại điện tử, vi phạm về thành lập và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam…

Quy định này cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền xử phạt trong việc quyết định các chế tài hành chính phù hợp, đúng pháp luật với chủ thể thực hiện vi phạm hành chính trong từng trường hợp cụ thể, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xử phạt. 

Giới hạn đối tượng được quyền xử phạt

Liên quan đến thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, lập biên bản và xử phạt vi phạm, bên cạnh việc quy định thẩm quyền của lực lượng Quản lý thị trường với tư cách là một trong những lực lượng chủ công trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thương mại, Nghị định 185/2013/NĐ-CP cũng quy định thẩm quyền của các lực lượng chức năng khác như công an, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển và thanh tra chuyên ngành.

Tuy nhiên, khác với một số nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ được quy định giới hạn cho một số lực lượng chức năng.

Điều này bắt nguồn từ quan điểm cho rằng hoạt động thanh tra, kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.

Hơn thế nữa, để thực hiện thanh tra, kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đúng pháp luật đòi hỏi người có thẩm quyền phải có trình độ chuyên môn, am hiểu các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tương ứng.

Các quy định như vậy nhằm ngăn chặn sự tùy tiện trong xử phạt, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.

Những quy định mới của Nghị định 185/2013/NĐ-CP sẽ tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, hàng giả gian lận thương mại và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong hoạt động thương mại; góp phần bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng và lợi ích xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong giaia đoạn phát triển mới của đất nước.

Đỗ Thanh Lam

Phó Cục trưởng Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương)

http://baodientu.chinhphu.vn

 

4. Từ 2014, nhiều trường hợp không phải kê khai, nộp thuế GTGT

 (Chinhphu.vn) – Điểm nổi bật của Nghị định 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế Gía trị gia tăng (GTGT) là từ ngày 1/1/2014, sẽ có thêm nhiều trường hợp không phải kê khai, nộp thuế GTGT.

 


Quy định cơ chế ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm trở lên đối với doanh nghiệp để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đã góp phần đơn giản hóa công tác quản lý thuế- Ảnh minh hoạ
 

Tại Kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật số31/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2014. Để Luật đi vào cuộc sống và bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện, đồng thời tạo thuận lợi cho người nộp thuế, cho công tác quản lý thu và cũng là phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT hợp nhất để thay thế Nghị định số123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CPngày 27/12/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ.

Tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn về vốn

Nghị định đã quy định chi tiết những nội dung của Luật mới được Quốc hội giao thẩm quyền cho Chính phủ như: Hướng dẫn chi tiết về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư và xuất khẩu, nâng thời hạn hoàn thuế GTGT từ 3 tháng lên 12 tháng hoặc 4 quý và cơ chế hoàn thuế đối với dự án đầu tư mới chưa có doanh thu; xác định mức doanh thu hàng hoá, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh không chịu thuế GTGT là từ 100 triệu đồng trở xuống; mức ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm trở lên đối với doanh nghiệp để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT; hướng dẫn xử lý thuế GTGT đầu vào khi đã chuyển đổi phương pháp; hướng dẫn tiêu chí để áp dụng thuế suất 0% đối với dịch vụ xuất khẩu...

Ngoài ra, Nghị định có quy định mới về việc doanh nghiệp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và khắc phục một số vướng mắc trong thực tiễn, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hàng nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã với lý do: Thực tế trong thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp trên kinh doanh thương mại lợi dụng quy định này mua hàng của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào lòng vòng qua nhiều doanh nghiệp sau cùng bán cho doanh nghiệp xuất khẩu để doanh nghiệp xuất khẩu được hoàn thuế.

Quy định nêu trên không ảnh hưởng đến số thu của ngân sách nhà nước mà sẽ  góp phần giảm gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế  đối với hàng hóa là nông, lâm, thủy sản. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu do không phải ứng vốn trả thuế đầu vào sau đó kê khai được để được khấu trừ, hoàn thuế.

Thứ  hai, chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT: Do dự án đầu tư được chuyển nhượng thường có giá trị lớn dẫn đến khó khăn về vốn cho doanh nghiệp (đơn vị nhận chuyển nhượng phải bố trí một khoản vốn lớn để thanh toán tiền thuế và kê khai, khấu trừ chờ hoàn thuế). Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, việc thu xếp vốn để trả thuế, nhất là đối với những dự án đầu tư hàng nghìn tỷ đồng mà nếu tính thuế khi chuyển nhượng có số thuế GTGT phải trả hàng trăm tỷ đồng, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp chuyển nhượng và doanh nghiệp nhận chuyển nhượng, không khuyến khích đầu tư và tái cơ cấu nền kinh tế trong khi thu ngân sách không tăng thêm do nộp rồi lại được hoàn. Nếu không thu thuế GTGT đối với chuyển nhượng dự án đầu tư thì phản ánh đúng thực chất số thu của ngân sách (vì kê khai, nộp thuế thì số thu vào Ngân sách địa phương, sau đó hoàn thuế từ Ngân sách Trung ương). 

Quy định như vậy, vừa cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn về vốn.

Góp phần tiết kiệm chi phí xã hội

Thuế GTGT là  một sắc thuế có số thu ngân sách lớn nhất trong hệ thống chính sách thuế hiện nay. Với các nội dung sửa đổi, bổ sung trong Nghị định sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho người nộp thuế nộp đúng và đủ số thuế phải nộp và cơ quan thuế thuận lợi hơn trong quá trình kiểm tra việc kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp.

Việc ban hành Nghị định đảm bảo chính sách đơn giản, rõ ràng, minh bạch, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế, tính tuân thủ pháp luật về thuế của các doanh nghiệp qua đó góp phần tiết kiệm chi phí xã hội.

Quy định mức doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống để xác  định hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh không chịu thuế GTGT nhằm đảm bảo rõ ràng, tạo thuận lợi cho hộ, cá nhân kinh doanh tự xác định có phải kê khai, nộp thuế GTGT hay không. Hiện hành, hộ cá nhân kinh doanh phải tự so sánh mức thu nhập với mức lương tối thiểu, mà mức lương tối thiểu được quy định theo vùng và điều chỉnh thường xuyên nên các hộ kinh doanh không thể tự xác định được có thuộc đối tượng phải kê khai nộp thuế GTGT hay không.

Ngoài ra, việc quy định cơ chế ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm trở lên đối với doanh nghiệp để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đã góp phần đơn giản hóa công tác quản lý thuế, giảm chi phí quản lý cho cơ quan thuế và chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, nhất là đối với các đối tượng nộp thuế có quy mô nhỏ và siêu nhỏ.

Việc bổ sung quy định cho phép các cơ sở kinh doanh dưới ngưỡng có thể tự nguyện đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nếu đảm bảo thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ sẽ góp phần lành mạnh hóa, nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Đây cũng là phương thức được nhiều nước trên thế giới áp dụng để khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường sử dụng hóa đơn, chứng từ trong sản xuất, kinh doanh.

Như vậy các nội dung sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm tới và phù hợp với thông lệ quốc tế; góp phần đơn giản thủ tục và tiết kiệm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và giảm chi phí quản lý cho cơ quan thuế, từng bước theo lộ trình triển khai Chiến lược cải cách hệ thống thuế đã được ban hành.

TS. Ngô Hữu Lợi

Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính)

http://baodientu.chinhphu.vn

 

5.  Đề xuất miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước

 (Chinhphu.vn) – Tại dự thảo Nghị định quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Bộ Tài chính đã đề xuất một số trường hợp được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước.

 

Ảnh minh họa

Cụ thể, Bộ Tài chính đề xuất miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời hạn thuê trong các trường hợp sau: 1- Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 2- Dự án sử dụng đất xây dựng nhà ở cho công nhân của các khu công nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ đầu tư không được tính chi phí về tiền thuê đất vào giá cho thuê nhà. 3- Dự án sử dụng đất xây dựng ký túc xá sinh viên bằng tiền từ ngân sách nhà nước, đơn vị được giao quản lý sử dụng cho sinh viên ở không được tính chi phí về tiền thuê đất vào giá cho thuê nhà. 4- Đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số. 5- Đất xây dựng công trình sự nghiệp của các tổ chức sự nghiệp công. 6- Đất xây dựng cơ sở, công trình cung cấp dịch vụ hàng không nhưng không bao gồm đất xây dựng cơ sở, công trình phục vụ kinh doanh dịch vụ hàng không. 7- Hợp tác xã nông nghiệp sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở hợp tác xã, sân phơi, nhà kho; xây dựng các cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Bên cạnh đó, Bộ đề xuất miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng tối đa không quá 3 năm kể từ ngày có quyết định cho thuê đất. Trường hợp người thuê đất sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp (trồng cây lâu năm) theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì thời gian xây dựng cơ bản vườn cây được miễn tiền thuê đất áp dụng đối với từng loại cây thực hiện theo quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lâu năm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định. Việc miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản được thực hiện theo Dự án gắn với việc nhà nước cho thuê đất mới.

Ngoài ra, miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án hoàn thành đưa vào hoạt động, cụ thể như sau: 3 năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư; tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường. 7 năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. 11 năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. 15 năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Cũng theo dự thảo, dự án gặp khó khăn phải tạm ngừng xây dựng, tạm ngừng hoạt động được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian tạm ngừng xây dựng cơ bản, tạm ngừng hoạt động theo sự xác nhận của cơ quan cấp giấy phép đầu tư hoặc cấp đăng ký kinh doanh.

Giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước

Theo đề xuất của Bộ Tài chính, giảm 50% tiền thuê đất cho hợp tác xã thuê đất để sử dụng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, nếu thuê đất, thuê mặt nước để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối mà bị thiên tai, hoả hoạn làm thiệt hại dưới 40% sản lượng được xét giảm tiền thuê tương ứng; thiệt hại từ 40% trở lên thì được miễn tiền thuê đối với năm bị thiệt hại.

Thuê đất, thuê mặt nước để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh mà không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối khi bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất khả kháng thì được giảm 50% tiền thuê đất, mặt nước trong thời gian ngừng sản xuất kinh doanh.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

Thanh Hoài

http://baodientu.chinhphu.vn

 

6. Quản lý ngoại hối việc cho vay ra nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 37/2013/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú.

 

Theo Thông tư, 4 đối tượng sau đây phải thực hiện đăng ký, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ bảo lãnh: 1- Tổ chức kinh tế thực hiện cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú; 2- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện bảo lãnh cho người không cư trú; 3- Đại diện bên bảo lãnh trong khoản đồng bảo lãnh của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho người không cư trú; 4- Trường hợp các thỏa thuận cho vay, thỏa thuận cấp bảo lãnh cho người không cư trú có sự tham gia của ít nhất 2 tổ chức kinh tế, từng tổ chức kinh tế thực hiện đăng ký, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ bảo lãnh đối với phần cho vay, bảo lãnh của mình.

 

Cho vay ra nước ngoài phải đăng ký với NHNN

Theo Thông tư, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký thỏa thuận cho vay và trước khi thực hiện giải ngân cho vay, bên cho vay gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý Ngoại hối) một bộ hồ sơ đăng ký khoản cho vay ra nước ngoài.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước gửi bên cho vay văn bản xác nhận đăng ký khoản cho vay ra nước ngoài. Trường hợp từ chối xác nhận đăng ký, Ngân hàng Nhà nước có văn bản nêu rõ lý do.

 

Tương tự, với thủ tục đăng ký khoản thu hồi nợ bảo lãnh, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh hoặc đại diện bên bảo lãnh (trong trường hợp đồng bảo lãnh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản Ngoại hối) một bộ hồ sơ đăng ký khoản thu hồi nợ bảo lãnh.

 

Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ của bên bảo lãnh hoặc đại diện bên bảo lãnh, Ngân hàng Nhà nước gửi bên bảo lãnh hoặc đại diện bên bảo lãnh văn bản xác nhận đăng ký khoản thu hồi nợ bảo lãnh. Trường hợp từ chối xác nhận, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ có văn bản nêu rõ lý do.

 

Mở tài khoản cho vay ra nước ngoài, tài khoản thực hiện bảo lãnh

Theo Thông tư, trước khi thực hiện các giao dịch chuyển tiền liên quan đến khoản cho vay ra nước ngoài, tổ chức kinh tế mở một tài khoản cho vay ra nước ngoài tại một tổ chức tính dụng cung ứng dịch vụ tài khoản. Các giao dịch liên quan đến khoản cho vay ra nước ngoài (giải ngân vốn cho vay; thu hồi nợ gốc, nợ lãi và các loại phí) phải thực hiện thông qua tài khoản cho vay ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, trước khi thực hiện các giao dịch chuyển tiền liên quan đến khoản bảo lãnh cho người không cư trú, tổ chức kinh tế mở một tài khoản bảo lãnh cho người không cư trú tại một tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ tài khoản. Các giao dịch liên quan đến khoản bảo lãnh (trả nợ thay bên được bảo lãnh, thu hồi nợ từ bên bảo lãnh, các loại phí) phải thực hiện thông qua tài khoản thực hiện bảo lãnh.

Thông tư nêu rõ, trường hợp tổ chức kinh tế thực hiện cho vay, bảo lãnh cho người không cư trú là doanh nghiệp ở nước ngoài có sự tham gia góp vốn dưới hình thức đầu tư trực tiếp của bên cho vay, bên bảo lãnh, tài khoản cho vay ra nước ngoài, tài khoản thực hiện bảo lãnh là tài khoản vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của tổ chức kinh tế theo các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/2/2014.

Bảo Lâm

http://baodientu.chinhphu.vn

 

 

7.  Thực hiện chế độ đối với thân nhân chiến sĩ CAND

 (Chinhphu.vn) - Liên Bộ Tài chính, Công an vừa ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 87/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với gia đình, thân nhân hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân.

 

Ảnh minh họa

Đối tượng áp dụng của Thông tư liên tịch là thân nhân hạ sĩ quan, chiến sĩ bao gồm: Bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp của hạ sĩ quan, chiến sĩ; gia đình hạ sĩ quan, chiến sĩ (là nơi hạ sĩ quan, chiến sĩ thường xuyên sinh sống trước khi phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân).

Thông tư quy định, gia đình, thân nhân của hạ sĩ quan, chiến sĩ được trợ cấp khó khăn đột xuất trong một số trường hợp cụ thể.

Gia đình hạ sĩ quan, chiến sĩ gặp tai nạn, hỏa hoạn, thiên tai dẫn đến bị sập nhà, trôi nhà, cháy nhà hoặc phải di dời chỗ ở thì được trợ cấp mức 2.000.000 đồng/suất/lần.

Thân nhân của hạ sĩ quan, chiến sĩ bị ốm đau từ một tháng trở lên hoặc điều trị (kể cả điều trị nội trú và ngoại trú) một lần tại bệnh viện (cơ sở y tế cấp huyện trở lên) từ 7 ngày trở lên thì được trợ cấp mức 500.000 đồng/suất/lần.

Chế độ trợ cấp khó khăn được thực hiện không quá 2 lần trong 1 năm đối với 1 đối tượng.

Thân nhân của hạ sĩ quan, chiến sĩ từ trần, mất tích thì được trợ cấp mức 1.000.000 đồng/suất.

Ngoài ra, trường hợp gia đình, thân nhân có nhiều hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn thì hạ sĩ quan, chiến sĩ nhập ngũ trước thực hiện việc kê khai đề nghị trợ cấp khó khăn đối với gia đình, thân nhân. Nếu nhập ngũ cùng một thời điểm thì người có thứ bậc cao nhất trong gia đình có trách nhiệm kê khai đề nghị trợ cấp khó khăn đối với gia đình, thân nhân.

Về chế độ miễn học phí, Thông tư liên tịch quy định, con đẻ, con nuôi hợp pháp của hạ sĩ quan, chiến sĩ được miễn học phí khi học tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập, ngoài công lập theo quy định của pháp luật hiện hành về chế độ miễn giảm học phí.

Thời gian hưởng chế độ miễn học phí đối với con của hạ sĩ quan, chiến sĩ được tính từ ngày cấp “Giấy chứng nhận đối tượng được hưởng chế độ miễn học phí” đến khi hạ sĩ quan, chiến sĩ kết thúc phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2014.

Khánh Linh

http://baodientu.chinhphu.vn

 

 

8.   Quy định mở, sử dụng tài khoản ngoại tệ để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

 (Chinhphu.vn) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 36/2013/TT-NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

 

Ảnh minh họa

Theo Thông tư, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư phải mở 1 tài khoản vốn đầu tư trực tiếp tại một tổ chức tín dụng được phép và thực hiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố. Mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam liên quan đến dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải được thực hiện thông qua tài khoản này.

Nhà đầu tư có nhiều dự án đầu tư ở nước ngoài phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp riêng biệt cho từng dự án. Trường hợp dự án có sự tham gia của nhiều nhà đầu tư, mỗi nhà đầu tư phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp riêng biệt tại cùng một tổ chức tín dụng được phép để chuyển ngoại tệ trong phạm vi giá trị vốn theo Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.

Về thẩm quyền xử lý việc đăng ký, đăng ký thay đổi tài khoản, tiến độ chuyển vốn, theo Thông tư: Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý ngoại hối) thực hiện việc xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi tài khoản, tiến độ chuyển vốn cho nhà đầu tư là tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi nhà đầu tư là tổ chức có trụ sở chính hoặc nơi nhà đầu tư là cá nhân đăng ký thường trú thực hiện việc xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi tài khoản, tiến độ chuyển vốn cho nhà đầu tư khác không phải là tổ chức tín dụng.

Nhà đầu tư có trách nhiệm chuyển lợi nhuận, chuyển vốn đầu tư về nước sau khi thanh lý, giải thể, giảm quy mô vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư theo quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư.

Trường hợp muốn sử dụng lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư trực tiếp vào dự án đang đầu tư hoặc đầu tư vào dự án khác, nhà đầu tư phải làm thủ tục điều chỉnh hoặc xin cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài cho dự án đó và thực hiện báo cáo Ngân hàng Nhà nước theo quy định.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 14/2/2014.

Từ Minh

http://baodientu.chinhphu.vn

 

 

9.  Nghị định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phẩn của tổ chức tín dụng Việt Nam

Ngày 03/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2014/NĐ-CP quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phẩn của tổ chức tín dụng Việt Nam.

 

Theo đó, Nghị định này quy định điều kiện, thủ tục mua cổ phần, tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng Việt Nam; điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

Nghị định áp dụng đối với tổ chức tín dụng cổ phần và tổ chức tín dụng chuyển đổi hình thức pháp lý thành tổ chức tín dụng cổ phần; nhà đầu tư nước ngoài; tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phẩn của tổ chức tín dụng Việt Nam.

Nghị định quy định hình thức mua cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài như sau: Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của cổ đông của tổ chức tín dụng cổ phần; Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng cổ phần bán cổ phần để tăng vốn điều lệ hoặc bán cổ phiếu quỹ; Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong trường hợp tổ chức tín dụng chuyển đổi hình thức pháp lý thành tổ chức tín dụng cổ phần.

Cũng theo Nghị định, tỷ lệ sở hữu cổ phẩn của một cá nhân nước ngoài không được vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam; tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài không được vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng tại Việt Nam trừ trường hợp tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam; tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Việt Nam. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật đối với công ty đại chúng, công ty niêm yết…

Về điều kiện đối với tổ chức nước ngoài mua cổ phần dẫn đến mức sở hữu từ 10% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam trở lên như sau: được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có uy tín xếp hạng từ mức ổn định hoặc tương đương trở lên; Có đủ nguồn tài chính để mua cổ phần được xác định theo báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập năm liền kề trước năm nộp hồ sơ và nguồn vốn mua cổ phần hợp pháp theo quy định của pháp luật; Việc mua cổ phần không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam; Không vi phạm nghiêm trọng pháp luật về tiền lệ, ngân hàng, chứng khoán và thị trường chứng khoán của nước nơi nhà đầu tư nước ngoài đặt trụ sở chính và Việt Nam trong thời hạn 12 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ mua cổ phần; Có tổng tài sản tối thiếu tương đương 10 tỷ đô la Mỹ đối với nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức khác vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ mua cổ phần.

Ngoài ra, Nghị định có đưa ra các điều kiện đối với tổ chức tín dụng Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các điều kiện cơ bản sau:

Tổ chức tín dụng chuyển đổi hình thức pháp lý thành tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án cổ phần hóa, phương án chuyển đổi được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài;

Tổ chức tín dụng cổ phần phải có phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.

Đối với tổ chức tín dụng cổ phần tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ, phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước trước khi trình Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Nghị định có quy định quyền của nhà đầu tư nước ngoài như sau: có đầy đủ quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật Việt Nam, Điều lệ của tổ chức tín dụng cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và thỏa thuận phù hợp với pháp luật Việt Nam trong hợp đồng mua, bán cổ phần giữa nhà đầu tư nước ngoài với tổ chức tín dụng Việt Nam; được chuyển ra nước ngoài các khoản thu nhập từ đầu tư, mua cổ phần, các khoản thu từ chuyển nhượng cổ phần sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật Việt Nam; được tham gia hoặc cử người đại diện tham gia Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Người điều hành của tổ chức tín dụng cổ phần theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và quy định của pháp luật Việt Nam; được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 02 năm 2014 và thay thế Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam./.

http://www.tapchitaichinh.vn

 

 

10. Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê

(Tài chính) Đó là một trong những nội dung quan trọng của dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, do Bộ Tài chính soạn thảo, đang được lấy ý kiến rộng rãi.

 

 Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê

Tỷ lệ % đối với đất có khả năng sinh lợi đặc biệt cũng không được vượt quá 3%.

Nguồn: internet

 

UBND cấp tỉnh quyết định giá thuê đất

Tại Điều 5 của dự thảo nêu rằng: Trong trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm: Đơn giá thuê đất hàng năm  =  Tỷ lệ %  x  Giá đất của thời hạn cho thuê đất (giá đất tính thu tiền thuê đất).

Tỷ lệ % được dự tính như sau: Trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm thì tỷ lệ giá đất một năm là 1%. Đối với đất thuộc đô thị, trung tâm thương mại,... có khả năng sinh lợi đặc biệt, có lợi thế kinh doanh, căn cứ vào thực tế địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định, nhưng tối đa không quá 3%. Đối với đất vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, UBND cấp tỉnh quyết định, tối thiểu không dưới 0,5%.

Giá đất được tính bằng giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê do UBND cấp tỉnh quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất (gọi tắt là hệ số- theo mục đích sử dụng đất tương ứng, tại thời điểm nhà nước quyết định cho thuê đất, cho chuyển mục đích sử dụng).

Căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất do Chính phủ quy định, Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành và quy hoạch sử dụng đất hàng năm; UBND cấp tỉnh ban hành hệ số, sau khi xin ý kiến của Thường trực HĐND cùng cấp.

Trường hợp thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, đơn giá là giá đất của thời hạn thuê được tính bằng giá đất nhân (x) với hệ số (theo mục đích sử dụng đất tương ứng).

Đối với một số trường hợp sử dụng đất thuê để xây dựng dự án có hệ số sử dụng đất cao hoặc có vị trí đất ở tại các đầu mối giao thông, khu trung tâm có khả năng sinh lợi cao, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể, tính thu tiền thuê đất hàng năm của chu kỳ ổn định đầu tiên hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời hạn thuê đất (theo quy định của Chính phủ về phương pháp định giá đất, khung giá đất, bảng giá đất, giá đất cụ thể và tư vấn định giá đất), mà không áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất.

Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thuê thì đơn giá thuê đất, giá đất tính thu tiền thuê đất trả một lần được xác định như sau:

Đấu giá quyền sử dụng đất thuê đối với hình thức trả tiền một lần cho cả thời hạn thuê đất thì đơn giá thuê đất trả một lần là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn thuê. Đơn giá khởi điểm để đấu giá được xác định bằng giá đất có cùng thời hạn do UBND cấp tỉnh quy định nhân với hệ số được ban hành tại thời điểm xác định, trừ trường hợp đấu giá đối với đất cho thuê.

Đấu giá quyền sử dụng đất thuê đối với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm thì đơn giá thuê đất là đơn giá trúng đấu giá của thời hạn một năm. Đơn giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất được xác định bằng với đơn giá thuê đất trong trường hợp cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá.

Trong phần này, dự thảo đưa ra 2 phương án, trong đó: phương án 1: Đơn giá trúng đấu giá được ổn định trong 10 năm, hết thời gian ổn định, thực hiện điều chỉnh theo chính sách và giá đất tại thời điểm điều chỉnh. Phương án 2: Đơn giá trúng đấu giá được ổn định trong toàn bộ thời gian thuê đất.

Xây công trình ngầm giá thuê bằng nửa mặt đất 

Đối với đất được Nhà nước cho thuê để xây dựng công trình ngầm (không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất), theo Luật Đất đai 2013: Trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm, đơn giá được xác định bằng 50% đơn giá thuê đất trên bề mặt, với hình thức thuê đất trả tiền hành năm (có cùng mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất).

Nếu là trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, đơn giá thuê đất được xác định bằng 50% giá đất trên bề mặt, với hình thức thuê đất tương ứng...

UBND cấp tỉnh quyết định đơn giá (của cả 2 hình thức trên) để xây dựng công trình ngầm đối với từng dự án cụ thể.

Đối với đất xây dựng công trình ngầm gắn với phần ngầm công trình xây dựng trên mặt đất, mà có phần diện tích xây dựng công trình ngầm vượt ra ngoài phần diện tích đất trên bề mặt có thu tiền thuê đất thì phần diện tích vượt thêm này phải nộp bằng 50% số tiền thuê đất bề mặt tương ứng (phần vượt thêm).

Giá thuê mặt nước ổn định tối đa 300 triệu đồng/km2

Mặt nước (không thuộc phạm vi quy định tại Điều 10 Luật Đất đai) có khung giá thuê được quy định như sau: Dự án sử dụng mặt nước cố định: từ 20 triệu đồng đến 300 triệu đồng/km2/năm. Dự án sử dụng mặt nước không cố định: từ 100 triệu đồng đến 750 triệu đồng/km2/năm.

Giá thuê của từng dự án do chủ tịch tỉnh quyết định. Trường hợp mặt biển thuộc địa giới hai tỉnh, thành phố (trực thuộc trung ương) trở lên thì chủ tịch các tỉnh, thành phố thống nhất giá thuê; nếu không thống nhất được thì Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Việc xác định tiền thuê mặt biển đối với các dự án khai thác dầu khí ở lãnh hải và thềm lục địa Việt Nam, Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn riêng.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn

 

 

11. Áp thuế 0% đối với hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng

(Tài chính) Tại Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng, mức thuế suất 0% được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng và Khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu, trừ các hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP.

 

Áp thuế 0% đối với hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

 

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.

-  Đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, bán vào khu phi thuế quan; công trình xây dựng, lắp đặt ở nước ngoài, trong khu phi thuế quan; hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam; phụ tùng, vật tư thay thế để sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện, máy móc thiết bị cho bên nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; xuất khẩu tại chỗ và các trường hợp khác được coi là xuất khẩu theo quy định của pháp luật.

-  Đối với dịch vụ xuất khẩu bao gồm dịch vụ cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, tiêu dùng trong khu phi thuế quan.

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu quy định nêu trên được áp dụng thuế suất 0% phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 9 Nghị định này và một số trường hợp hàng hóa, dịch vụ được áp dụng mức thuế suất 0% theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định.

Trường hợp cung cấp dịch vụ mà hoạt động cung cấp vừa diễn ra tại Việt Nam, vừa diễn ra ở ngoài Việt Nam nhưng hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa hai người nộp thuế tại Việt Nam hoặc có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì thuế suất 0% chỉ áp dụng đối với phần giá trị dịch vụ thực hiện ở ngoài Việt Nam, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất 0% trên toàn bộ giá trị hợp đồng. Trường hợp, hợp đồng không xác định riêng phần giá trị dịch vụ thực hiện tại Việt Nam thì giá tính thuế được xác định theo tỷ lệ (%) chi phí phát sinh tại Việt Nam trên tổng chi phí.

Theo customs.gov.vn

 

12. Trốn nộp phí, lệ phí bị phạt tới 50 triệu đồng

(Tài chính) Đây là nội dung quy định tại Thông tư 186/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí, được áp dụng từ ngày 20/1/2014.

 

 Trốn nộp phí, lệ phí bị phạt tới 50 triệu đồng

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

 

Thông tư nêu rõ, nếu vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng.

Đối với hành vi không niêm yết hoặc không thông báo công khai chế độ thu theo quy định của pháp luật phí, lệ phí tại địa điểm thu, nộp phí, lệ phí ở vị trí thuận tiện để các đối tượng nộp phí, lệ phí dễ nhận biết bị phạt từ 1 đến 3 triệu đồng.

Nếu vi phạm quy định về nộp phí, lệ phí, phạt tiền từ 01 đến 03 lần số tiền phí, lệ phí gian lận, trốn nộp đối với hành vi gian lận, trốn nộp phí, lệ phí theo quy định. Mức phạt tiền tối đa là 50.000.000 đồng.

Thông tư cũng nêu rõ, phạt tiền đối với hành vi khai man, khai khống hồ sơ để được áp dụng quy định miễn, giảm phí, lệ phí. Mức phạt là 20% tính trên số tiền được miễn, giảm. Mức phạt tối thiểu là 500.000 đồng, mức phạt tối đa là 50.000.000 đồng…

Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn bị áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc hoàn trả toàn bộ tiền phí, lệ phí đã thu do thực hiện sai pháp luật về phí, lệ phí cho người nộp phí, lệ phí. Trong trường hợp không xác định được người để hoàn trả thì nộp vào ngân sách nhà nước; buộc nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền có được do vi phạm quy định về mức thu phí, lệ phí…

Theo chinhphu.vn

 

13. Siết chặt quản lý bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

(Tài chính) Theo Thông tư số 214/2013/TTLT-BTC-BCA vừa được liên Bộ Tài chính - Bộ Công an ban hành, người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định của pháp luật.

 

Siết chặt quản lý bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

 

Thông tư cũng quy định đối với cơ sở trong đó có nhiều hộ như nhà tập thể, nhà chung cư hoặc trong một cơ sở mà có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thuê, trách nhiệm mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc thực hiện như sau:

Một là, trường hợp xác định được người là chủ sở hữu cơ sở hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý hoặc người đại diện chung (sau đây gọi chung là người đại diện), thì người đó chịu trách nhiệm mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Từng hộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm cho người đại diện. Trong trường hợp này, người được bảo hiểm là từng hộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp phí bảo hiểm cho người đại diện.

Hai là, trường hợp không xác định được người đại diện thì từng hộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cơ sở đó có trách nhiệm trực tiếp mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. 

Tuy nhiên, Thông tư cũng nhấn mạnh, doanh nghiệp bảo hiểm không được từ chối bán bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc khi bên mua bảo hiểm đã tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy (PCCC), trừ các trường hợp cơ sở chưa được nghiệm thu về PCCC khi xây dựng mới, cải tạo hoặc thay đổi tính chất sử dụng; Cơ sở không có biên bản kiểm tra về PCCC của cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy hoặc biên bản kiểm tra đã quá 01 năm tính từ thời điểm lập đến thời điểm mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; Cơ sở đang bị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động do vi phạm nghiêm trọng các quy định về PCCC.

Trong trường hợp, bên mua bảo hiểm không thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc có trách nhiệm đóng góp kinh phí để phục vụ cho các hoạt động PCCC theo hướng dẫn của Bộ Tài chính để sử dụng cho hoạt động sau:

Thứ nhất, đầu tư trang bị phương tiện, thiết bị PCCC của lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy. Mức chi cho nội dung này không thấp hơn 70% nguồn kinh phí thực chi cho hoạt động PCCC trong năm; nguồn kinh phí còn lại tối đa không quá 30% để chi cho các hoạt động khác.

Thứ hai, hỗ trợ tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến kiến thức pháp luật và kiến thức phổ thông về PCCC chung cho toàn dân. Nội dung và mức chi cho các hoạt động này áp dụng theo Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho các công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ ba, hỗ trợ khen thưởng thành tích trong công tác PCCC. Mức khen thưởng tối đa không quá 5 triệu đồng đối với tập thể; 3 triệu đồng đối với cá nhân. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc khen thưởng và kinh phí khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác PCCC.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/02/2014 và thay thế Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

http://www.tapchitaichinh.vn

 

 

14. Doanh nghiệp có vốn nước ngoài không được xuất khẩu dầu mỏ

(Tài chính) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện quyền xuất khẩu dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bitum, ở dạng thô (gồm: Dầu mỏ thô, Condensate, loại khác).

 

 Doanh nghiệp có vốn nước ngoài không được xuất khẩu dầu mỏ

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

 

Đây là một trong những nội dung tại Thông tư số 34/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện quyền nhập khẩu đối với một số loại xì gà, xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, từ lá thuốc lá hoặc từ các chất thay thế lá thuốc lá; Lá thuốc lá đã chế biến và các chất thay thế thuốc lá đã chế biến khác; thuốc lá “thuần nhất” hoặc thuốc lá “hoàn nguyên”; chiết xuất và tinh chất lá thuốc lá.

Ngoài ra, danh mục hàng hóa mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện quyền nhập khẩu còn bao gồm: Dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum, trừ dầu thô; các chế phẩm chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác, có chứa hàm lượng từ 70% trở lên là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum, những loại dầu này là thành phần cơ bản của các chế phẩm đó; dầu thải.

Bên cạnh đó, báo, tạp chí chuyên ngành và các xuất bản phẩm định kỳ, có hoặc không có minh họa tranh ảnh hoặc chứa nội dung quảng cáo; Đĩa, băng và các phương tiện lưu trữ thông tin đã ghi âm thanh hoặc ghi các hiện tượng tương tự khác, kể cả khuôn và vật chủ (gốc) để sản xuất băng, đĩa...; Phương tiện bay khác (trực thăng, máy bay)... cũng thuộc danh mục này.

Thông tư cũng quy định, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện quyền phân phối lúa gạo; đường mía, đường củ cải và một số loại thuốc lá, xì gà; dầu thô và dầu đã qua chế biến; dược phẩm; thuốc nổ; sách, báo và tạp chí; kim loại quý và đá quý; vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu.

Thông tư nêu rõ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối đối với hàng hóa không thuộc các danh mục trên.

Thông tư có hiệu lực thực hiện kể từ ngày 5/2/2014.

Theo chinhphu.vn

 

 

15. Quy định mới về phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng

(Tài chính) Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 34/2013/TT-NHNN quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước (giấy tờ có giá) của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

 

 Quy định mới về phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

 

Theo Thông tư, giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa TCTD phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.

TCTD được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh. Thông tư nêu rõ, đối với người mua giấy tờ có giá là tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, TCTD chỉ được phát hành giấy tờ có giá theo hình thức giấy tờ có giá ghi danh.

Trường hợp phát hành giấy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, TCTD phát hành cấp cho người mua giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá.

Phát hành và thanh toán giấy tờ có giá bằng VNĐ

Thông tư nêu rõ, giấy tờ có giá được phát hành và thanh toán bằng đồng Việt Nam. Mệnh giá của giấy tờ có giá tối thiểu là 100.000 đồng; các mệnh giá lớn hơn phải là bội số của mệnh giá tối thiểu.

Lãi suất giấy tờ có giá do TCTD phát hành quyết định phù hợp với lãi suất thị trường và quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động cho TCTD.

Trong thời hạn phát hành giấy tờ có giá, TCTD chủ động điều chỉnh lãi suất này cho phù hợp với quy định về điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.

Nội dung giấy tờ có giá

Theo Thông tư, giấy tờ có giá phải bao gồm các nội dung sau: Tên tổ chức phát hành; tên gọi giấy tờ có giá; mệnh giá, thời hạn, ngày phát hành, ngày đến hạn thanh toán; lãi suất, phương thức trả lãi, thời điểm trả lãi, địa điểm thanh toán gốc và lãi; ghi rõ giấy tờ có giá ghi danh, vô danh; ký hiệu, số seri phát hành; chữ ký của người đại diện theo pháp luật của TCTD phát hành hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật và các chữ ký khác do TCTD quy định…

Bên cạnh đó, đối với giấy tờ có giá ghi danh phải ghi rõ tên tổ chức, số giấy phép thành lập hoặc giấy phép đăng ký kinh doanh, địa chỉ của tổ chức mua giấy tờ có giá (nếu người mua là tổ chức); tên, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ của người mua giấy tờ có giá (nếu người mua là cá nhân).

Đối với trái phiếu chuyển đổi phải ghi rõ thời hạn chuyển đổi trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu; đối với trái phiếu kèm chứng quyền phải ghi rõ điều kiện được mua cổ phiếu phổ thông của người sở hữu chứng quyền, số lượng cổ phiếu được mua của từng đơn vị chứng quyền, các quyền lợi và trách nhiệm của người nắm giữ chứng quyền.

Phiếu trả lãi kèm theo giấy tờ có giá phải có các chi tiết liên quan đến giấy tờ có giá (số seri, mệnh giá), lãi suất, số tiền được lĩnh, kỳ hạn lĩnh lãi.

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 14/2/2014.

Theo chinhphu.vn

 

16. Các đề xuất trong dự thảo Nghị định về thu tiền sử dụng đất

(Tài chính) Tại dự thảo Nghị định về thu tiền sử dụng đất, Bộ Tài chính đề xuất giao đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất thì tiền sử dụng đất được tính bằng diện tích đất tính thu tiền sử dụng đất nhân (x) với giá đất trúng đấu giá quyền sử dụng đất của mục đích sử dụng đất đấu giá.

 

Các đề xuất trong dự thảo Nghị định về thu tiền sử dụng đất

Đối với tổ chức kinh tế, nếu chuyển từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được giao không thu tiền sử dụng đất sang đất ở thì thu 100% tiền sử dụng đất theo giá đất ở. Nguồn: internet

 

Theo dự thảo Nghị định trên, nếu giao đất không thông qua đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì tiền sử dụng đất phải nộp được xác định cụ thể theo công thức sau:

Một là, trường hợp không được giảm tiền sử dụng đất và không phải chi bồi thường, giải phóng mặt bằng

 

Tiền sử dụng đất phải nộp

=

Giá đất tính thu tiền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất

x

Diện tích đất phải nộp tiền sử dụng đất

Hai là, trường hợp được giảm tiền sử dụng đất theo quy định

Tiền sử dụng đất phải nộp

=

Tiền sử dụng đất phải nộp theo xác định tại điểm a khoản này

-

Tiền sử dụng đất được giảm theo quy định (nếu có)

Ba là, trường hợp vừa được giảm tiền sử dụng đất, vừa được trừ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng

Tiền sử dụng đất phải nộp

=

Tiền sử dụng đất phải nộp theo xác định tại điểm a khoản này

-

Tiền sử dụng đất được giảm theo quy định (nếu có)

-

Tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án  được cấp có thẩm quyền phê duyệt được trừ  vào tiền sử dụng đất (nếu có)

 

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đề xuất, nếu chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất sang đất ở thì Bộ Tài chính đề xuất thu tiền sử dụng đất như sau:

Thứ nhất, trường hợp được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở có thu tiền sử dụng đất trước ngày 1/7/2014, khi được chuyển mục đích sang đất ở phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở trừ tiền sử dụng đất tính theo giá đất của loại đất trước khi chuyển mục đích của thời hạn sử dụng đất còn lại tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Thứ hai, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm, khi được chuyển mục đích sang đất ở đồng thời với chuyển từ thuê sang giao đất phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá đất ở tại thời điểm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Số tiền thuê đất đã nộp của thời gian chưa sử dụng đất (trong năm chuyển mục đích) được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp.

Thứ ba, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở dưới hình thức trả tiền thuê đất một lần, khi được chuyển mục đích sang đất ở đồng thời với chuyển từ thuê sang giao đất phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở trừ tiền thuê đất phải nộp một lần của loại đất trước khi chuyển mục đích theo thời hạn sử dụng đất còn lại tại thời điểm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân

Về thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất, nếu chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai 2013 sang làm đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.

Nếu chuyển từ đất nông nghiệp được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp...

 

http://www.tapchitaichinh.vn

 

17. Cần luật hóa hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử của ĐBQH

 

Tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử đã được quy định cụ thể trong Nghị quyết liên tịch số 525/2012 của UBTVQH và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Từ kinh nghiệm thực tiễn, PHÓ TRƯỞNG ĐOÀN ĐBQH TỈNH CÀ MAU TRƯƠNG MINH HOÀNG cho rằng, đây là hoạt động rất cần thiết đối với ĐBQH, nhất là ĐBQH chuyên trách, góp phần tăng cường tính chủ động của ĐBQH trong việc thực hiện nhiệm vụ là người đại diện cho cử tri cả nước. Và điều quan trọng hơn nữa là, sau các cuộc tiếp xúc, ĐBQH cần sử dụng hết năng lực và thẩm quyền được trao để thúc đẩy các cơ quan hữu quan giải quyết kiến nghị của cử tri hoặc chuyển tải ý kiến, kiến nghị của cử tri thành quyết sách đúng đắn của QH.

 

- Tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử là hoạt động khá mới mẻ, được ghi nhận tại Nghị quyết liên tịch số 525 của UBTVQH và Đoàn Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Thời gian thực hiện chưa dài nhưng có thể thấy, hình thức tiếp xúc này đã nhận được sự ủng hộ của cử tri và tác động tích cực đến hoạt động của ĐBQH, thưa Phó trưởng Đoàn?

- Tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử của ĐBQH chủ yếu được triển khai thực hiện từ năm 2012, sau khi có Nghị quyết liên tịch số 525 của UBTVQH và Đoàn Chủ tịch Trung ương MTTQ Việt Nam quy định cụ thể về hoạt động này. Thời gian thực hiện chưa dài nhưng hoạt động này đã góp phần tăng cường tính chủ động của ĐBQH trong việc thực hiện nhiệm vụ là người đại diện cho cử tri cả nước.

Từ thực tiễn hoạt động của mình, tôi cho rằng, việc tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử là hoạt động rất cần thiết đối với các ĐBQH, nhất là các ĐBQH chuyên trách, ĐBQH là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, ĐBQH là Bộ trưởng, trưởng ngành của Chính phủ. Tất nhiên, ĐBQH nào cũng có trách nhiệm giữ mối liên hệ mật thiết với cử tri, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của cử tri và thay mặt cử tri tác động, thúc đẩy các cơ quan hữu quan giải quyết các vấn đề cử tri đặt ra... nhưng ĐBQH chuyên trách, ĐBQH là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, ĐBQH là Bộ trưởng, trưởng ngành của Chính phủ phải có trách nhiệm cao hơn. Với chức trách của mình, các ĐBQH này tiếp xúc được với cử tri ở càng nhiều địa phương sẽ càng có cái nhìn đa chiều, toàn diện hơn về những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng các quyết định của QH về lập pháp, giám sát và các vấn đề quan trọng của đất nước. Việc ĐBQH là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành của Chính phủ trực tiếp tiếp xúc với cử tri tại các địa phương cũng sẽ có tác động tích cực đối với việc giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của cử tri. Ví dụ, ĐBQH là Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường tiếp xúc với cử tri các địa phương đang nóng về đất đai chắc chắn sẽ có tác dụng tốt hơn các ĐBQH khác vì Bộ trưởng là người hiểu rõ chính sách, pháp luật về đất đai và có thể yêu cầu Sở Tài nguyên – Môi trường giải quyết ngay kiến nghị của cử tri.

- ĐBQH không chỉ là người đại diện cho cử tri tại địa bàn ứng cử mà còn đại diện cho cử tri cả nước. Hiến pháp, luật đã khẳng định như vậy nhưng có lẽ, lâu nay chúng ta vẫn quen với việc ĐBQH giữ mối liên hệ với cử tri nơi mình ứng cử nhiều hơn là với số đông cử tri cả nước, thưa Phó trưởng Đoàn?

- Trước hết, cần khẳng định, việc ĐBQH tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử không phải là mới. Theo Hiến pháp, ĐBQH không chỉ đại diện cho cử tri nơi bầu ra mình, mà còn đại diện cho cử tri cả nước. Vì thế, ĐBQH có trách nhiệm phải giữ mối liên hệ với cử tri tại địa phương mình ứng cử và cử tri tại các địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế, việc ĐBQH đi tiếp xúc cử tri tại các địa bàn khác với nơi mình ứng cử  không nhiều. Việc Nghị quyết 525 quy định tương đối chi tiết, cụ thể về hoạt động này đã tạo cơ sở để các ĐBQH thực hiện nhiệm vụ, tạo cầu nối trực tiếp hơn với cử tri tại những nơi đại biểu không ứng cử.

Dẫu vậy, ĐBQH tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử cũng có cái khó. Chẳng hạn, tôi là ĐBQH ở tỉnh Cà Mau, đi tiếp xúc cử tri của tỉnh Bình Dương, nếu cử tri ở đó đặt ra những vấn đề bức xúc đã kéo dài nhiều năm, tôi muốn khảo sát lại tình hình hoặc tiến hành giám sát hoặc đeo bám, yêu cầu cơ quan hữu quan của Bình Dương giải quyết triệt để kiến nghị của cử tri thì sẽ rất khó khăn cả về khoảng cách địa lý, về điều kiện thời gian... Tôi nghĩ, đó là cái khó lớn nhất hiện nay trong hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử của ĐBQH. Vì nếu ĐBQH không thúc đẩy giải quyết rốt ráo được những vấn đề cử tri đặt ra thì độ tin cậy của cử tri đối với ĐBQH cũng sẽ giảm đi.

- Như Phó trưởng Đoàn chia sẻ, tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử là hoạt động rất cần thiết, nhưng nếu ĐBQH không rốt ráo, không theo đến cùng việc giải quyết các kiến nghị của cử tri thì có thể sẽ bị suy giảm lòng tin. Từ kinh nghiệm thực tế của mình, theo Phó trưởng Đoàn làm thế nào để các cuộc tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử có hiệu quả?

- Tôi cho rằng, để tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử đạt hiệu quả cao thì nên áp dụng các hình thức tiếp xúc cử tri theo giới, theo đối tượng, theo chuyên đề. Việc xác định nội dung, đối tượng cử tri và địa điểm tiếp xúc là rất quan trọng. Vừa qua, Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau đã mời Chủ nhiệm một Ủy ban của QH về tiếp xúc cử tri. Cuộc tiếp xúc có cả Trưởng Đoàn ĐBQH và các ĐBQH ở địa phương cùng tham gia. ĐBQH ở Trung ương và địa phương cùng giải đáp những nội dung cử tri đặt ra. Ví dụ những kiến nghị về các dự án luật, ĐBQH địa phương mà hứa thì cử tri tin nhưng nếu nghe lời hứa của các ĐBQH có vị trí cao trong QH, Chính phủ thì cử tri sẽ càng tin tưởng hơn, mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình hơn. Không chỉ tạo điều kiện cho vị Chủ nhiệm Ủy ban của QH phát biểu, trao đổi, đối thoại với cử tri, chúng tôi còn cung cấp giấy, bút để cử tri nêu thêm các ý kiến, kiến nghị. Qua tiếp xúc như vậy, không chỉ cử tri mà chính các ĐBQH cũng thấy rất phấn khởi vì nội dung tiếp xúc đi vào chiều sâu, thiết thực.

ĐBQH tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử cũng cần hết sức lưu ý tới việc tổng hợp, xử lý các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Nếu ĐBQH đã chuyển ý kiến, kiến nghị của cử tri đến QH, đến cơ quan chức năng thì cần phải thông tin lại cho cử tri nơi mình đã tiếp xúc biết các vấn đề cử tri nêu đã được giải quyết ở mức độ nào. Ví dụ, tôi đi tiếp xúc cử tri tại Bình Dương, sinh viên trường Đại học Bình Dương kiến nghị một số vấn đề. Tại Kỳ họp thứ Sáu, tôi đã phát biểu về các vấn đề này và sau Kỳ họp, tôi đã chuyển lại bằng văn bản cho trường Đại học Bình Dương những nội dung có liên quan. Với cách làm như vậy, mối liên hệ giữa ĐBQH với cử tri sẽ bền chặt hơn.

- Với hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn, ĐBQH không thể nắm rõ tình hình tại địa phương sẽ tiếp xúc so với ĐBQH tại chính địa phương đó, thưa Phó trưởng Đoàn?

Để giải quyết được việc đó tôi cho rằng giữa ĐBQH nơi khác đến với ĐBQH tại địa phương phải có sự gắn bó, cộng đồng trách nhiệm. Ví dụ tại cà Mau, nếu ĐBQH được chúng tôi mời đến tiếp xúc cử tri không có điều kiện khảo sát tình hình thì Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau có trách nhiệm nắm tình hình, trao đổi thông tin, hỗ trợ, chia sẻ với ĐBQH đó và cùng hòa hợp trách nhiệm. Như vậy, hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử không chỉ giúp tăng cường quan hệ giữa ĐBQH với cử tri mà còn giúp tăng cường quan hệ giữa các ĐBQH với nhau. Vì thế, tôi hy vọng, sắp tới khi sửa đổi Luật Tổ chức QH, QH sẽ tổng kết việc thực hiện quy định này trong Nghị quyết 525 và đưa thành quy định trong luật để hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử được các ĐBQH tiến hành thường xuyên  hơn, trên diện rộng hơn.

- Theo Phó trưởng Đoàn, làm thế nào để tăng cường chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, làm bền chặt hơn nữa mối quan hệ giữa ĐBQH và cử tri?

Trước hết, phải có sự tổng kết, đánh giá lại việc thực hiện Nghị quyết 525 để sắp tới khi sửa đổi Luật Tổ chức QH, có thể nghiên cứu, quy định rõ trong Luật về hoạt động tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn ứng cử. Như thế hoạt động này mới có cơ sở pháp luật vững chắc. Thứ hai, ĐBQH khi đã nhận kiến nghị của cử tri, đã hứa với cử tri thì phải dốc sức thực hiện. Đương nhiên, về vấn đề này, một số ĐBQH cũng đã phản ánh là đã kiến nghị nhiều lần nhưng có khi cơ quan hữu quan vẫn không giải quyết vì chúng ta chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý các trường hợp như vậy. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, các ĐBQH cũng phải đi đến cùng trách nhiệm của mình. Ví dụ, ở Cà Mau, sau các cuộc tiếp xúc cử tri sau kỳ họp, Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau thường có báo cáo lại kết quả giải quyết cho cử tri trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Những nội dung mà Đoàn đã tổng hợp, gửi đến các cơ quan chức năng đến lần thứ hai mà vẫn không thấy trả lời hoặc chưa giải quyết được thì chúng tôi đưa lên truyền hình trực tiếp để cử tri, các cơ quan trong toàn tỉnh được biết.

Kinh nghiệm cho thấy, ĐBQH phải chủ động hơn, quyết liệt hơn. Hiến pháp và pháp luật đã giao cho ĐBQH nhiều quyền hạn để thực hiện sứ mệnh là người đại diện cho dân. Vấn đề là chính các ĐBQH có sử dụng hết quyền hạn được trao hay không? Ví dụ nếu tôi đề nghị UBND huyện giải quyết một vấn đề nào đó mà lần thứ nhất chưa thấy UBND huyện giải quyết, tôi sẽ gửi văn bản nhắc lại lần thứ hai với UBND huyện và gửi nội dung vụ việc cho UBND tỉnh yêu cầu chỉ đạo giải quyết. Hoặc là nếu vụ việc đó thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh mà đến lần thứ hai chưa thấy giải quyết thì tôi sẽ gửi đồng thời sang Thường trực Tỉnh ủy. Nếu kiến nghị nhiều lần mà chưa được trả lời thì ĐBQH có thể tổng hợp lại để chất vấn đại diện Chính phủ tại diễn đàn của QH. Phải quyết liệt như vậy thì mới có thể thúc đẩy các cơ quan tích cực giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Tôi cho rằng nếu mình nói trúng vấn đề, đã kiến nghị nhiều lần, thậm chí chất vấn tại QH thì chính quyền khi nhận được công văn yêu cầu giải quyết kiến nghị của cử tri chắc chắn sẽ có ý thức giải quyết nhanh hơn.

- Xin cám ơn Phó trưởng Đoàn!

Ngọc Điệp thực hiện

http://www.daibieunhandan.vn

 

 

18. Đại biểu HĐND cần bồi dưỡng kỹ năng, hỗ trợ điều kiện và cơ chế hoạt động

Thực tiễn hoạt động cho thấy, chất lượng đại biểu là yếu tố quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử địa phương. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử địa phương, trước hết phải bảo đảm sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong quá trình chuẩn bị nhân sự của HĐND.

 

Đa số đại biểu HĐND tỉnh Kiên Giang nhiệt tình, tích cực, thể hiện tinh thần trách nhiệm trong công việc, nỗ lực phấn đấu hoàn thành ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của người đại biểu dân cử. Tuy nhiên hiện tại, về cơ cấu nhiệm kỳ 2011 - 2016, HĐND tỉnh có 10 đại biểu chuyên trách là: Phó chủ tịch, Ủy viên Thường trực, Trưởng, Phó các ban HĐND (tăng hơn nhiệm kỳ trước 4 chuyên trách), còn hầu hết đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, trình độ, năng lực không đồng đều đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND. Thực tiễn hoạt động cho thấy, chất lượng đại biểu là yếu tố quan trọng, quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử địa phương. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử địa phương, trước hết phải bảo đảm sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong quá trình chuẩn bị nhân sự của HĐND. Trong giai đoạn hiệp thương lựa chọn, giới thiệu nhân sự, Thường trực HĐND tỉnh đã phối hợp với Ban Thường trực UBMTTQ tỉnh tham mưu cho Tỉnh ủy giới thiệu những người có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, sức khỏe tham gia ứng cử đại biểu HĐND. Chỉ đạo chặt chẽ khâu hiệp thương, lựa chọn giới thiệu những đại biểu đủ đức, đủ tài, được rèn luyện thử thách trong thực tế và có khả năng tiếp thu, vận dụng đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt, cần tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách và tăng đại biểu ở khối Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp, quần chúng.

Trong điều kiện đa số đại biểu lần đầu tham gia hoạt động dân cử, cần tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật; kỹ năng hoạt động cho đại biểu. Luôn đổi mới hình thức, nội dung tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu HĐND; tổ chức tập huấn theo chuyên đề, tổ chức giao ban, hội thảo trao đổi kinh nghiệm… Trong đó, cần tập trung bồi dưỡng những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật; về tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu HĐND. Nhất là những kỹ năng có tính đặc thù và cần thiết đối với hoạt động của đại biểu dân cử như: kỹ năng của đại biểu trong phân tích các vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp, xem xét các vấn đề toàn diện để đại biểu có những ý kiến, kiến nghị chính xác và kịp thời đóng góp vào những quyết sách của HĐND. Kỹ năng của đại biểu trong việc thu thập, xử lý thông tin, trình bày các ý kiến và tham gia đóng góp ý kiến xây dựng vào các quyết sách của HĐND tỉnh tại kỳ họp. Bồi dưỡng kỹ năng về chất vấn và đối thoại, gồm những nội dung về phương pháp thu thập tài liệu, chứng cứ; lựa chọn vấn đề đưa ra chất vấn; lựa chọn ngôn ngữ đối thoại trong chất vấn. Tập huấn về kỹ năng giám sát, bao gồm tự giám sát và tham gia đoàn giám sát; xác định cách tiếp cận để nghiên cứu vấn đề cần giám sát; kinh nghiệm nêu vấn đề, đặt câu hỏi hợp lý với cơ quan hữu quan để làm rõ nội dung cần giám sát; thảo luận và đi đến kết luận giám sát; xây dựng kiến nghị và theo dõi việc thực hiện các kiến nghị của đoàn giám sát. Bồi dưỡng kỹ năng về TXCT, bao gồm các kỹ năng cụ thể về lắng nghe và tiếp nhận thông tin từ cử tri; thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin; kỹ năng báo cáo, giải trình và nói chuyện trước công chúng, tuyên truyền kết quả kỳ họp, giải đáp những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo.

Bên cạnh đó, đổi mới và tăng cường công tác thông tin phục vụ hoạt động của đại biểu. Thường xuyên quan tâm cung cấp tài liệu, các văn bản liên quan, nhất là về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới ban hành của Đảng và Nhà nước, thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương. Như, tài liệu liên quan đến kỳ họp HĐND, các báo cáo hoạt động của HĐND và UBND hàng tháng, quý và cả năm… để đại biểu nắm thông tin, có điều kiện thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát tại địa phương. Duy trì việc mua các ấn phẩm báo chí liên quan đến hoạt động của HĐND; tăng thời lượng các chương trình Phát thanh - Truyền hình địa phương liên quan đến hoạt động của các đại biểu, hoạt động của HĐND. Đổi mới cơ chế hoạt động của đại biểu, tổ đại biểu, nội dung sinh hoạt của đại biểu, tổ đại biểu phải phong phú, có chất lượng, tập trung vào các hoạt động TXCT, giám sát, khảo sát, tiếp công dân, nghiên cứu chính sách, pháp luật. Đồng thời, tăng cường phối hợp và trao đổi kinh nghiệm hoạt động của HĐND các cấp, phối hợp chặt chẽ với Đoàn ĐBQH và các cơ quan của Quốc hội, UBND, Ủy ban MTTQ cùng cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc chuẩn bị và tổ chức các kỳ họp, hoạt động giám sát, TXCT, đôn đốc việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo… Qua đó, đại biểu được trao đổi, học tập và nâng cao kỹ năng hoạt động.

Việc bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí phục vụ hoạt động của đại biểu HĐND cũng rất quan trọng. Tạo điều kiện thuận lợi cho các đại biểu HĐND tỉnh hoạt động, Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, phương tiện phục vụ, kinh phí hoạt động cho đại biểu. Ngoài chi trả hoạt động phí cho đại biểu theo quy định, HĐND tỉnh cần ban hành nghị quyết về định mức chi hoạt động HĐND các cấp, trong đó có mức chi cho hoạt động của đại biểu như: tham dự các kỳ họp; thẩm tra các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết; tham gia các hoạt động giám sát, khảo sát; tiếp công dân. Thực hiện tốt các chế độ phụ cấp, bảo hiểm y tế; đề nghị khen thưởng kịp thời đối với đại biểu có thành tích xuất sắc trong hoạt động của HĐND.

Về phía mình, mỗi đại biểu HĐND, đặc biệt là đại biểu chuyên trách phải thường xuyên tự nghiên cứu, nâng cao nhận thức và hiểu biết đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND; năng động, sáng tạo trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, trong hoạt động thực tiễn. Các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm cũng cần phát huy tính chủ động trong công tác, không chỉ hoạt động trong kỳ họp HĐND mà cả hoạt động giữa hai kỳ họp, TXCT, tiếp công dân, đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC của công dân.

Trần Quốc Việt
                                                                                   Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Kiên Giang

                                                                                                                http://www.daibieunhandan.vn

 

19. Bàn về nguyên tắc hiến định: Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Tranh tụng trong xét xử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Trước hết, tranh tụng không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan; tranh tụng còn là cách thức nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng lực, trình độ hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

 

1. Tranh tụng trong xét xử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Trước hết, tranh tụng không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan; tranh tụng còn là cách thức nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng lực, trình độ hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Điều đó là đặc biệt cần thiết trong hoạt động xét xử của Tòa án, qua tranh tụng tại phiên tòa, các chứng cứ sẽ có điều kiện được kiểm định lại và làm sáng tỏ thêm, những người có thẩm quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa, có điều kiện trình bày, chứng minh, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch; chủ tọa phiên tòa sẽ có điều kiện đánh giá một cách khách quan hơn so với tố tụng chỉ thiên về xét hỏi. Như vậy, tranh tụng trong xét xử góp phần rất quan trọng để Tòa án phán xét đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp của nước nhà là biểu hiện điển hình của công bằng và công lý. Tranh tụng trong xét xử là nguyên tắc phổ quát trong tố tụng tư pháp của hầu hết các nhà nước dân chủ và pháp quyền. Đó là một giá trị và là một tiêu chí để đánh giá một nền tư pháp có dân chủ và pháp quyền hay không? Chính vì thế, trong định hướng về cải cách tư pháp, Đảng ta đã nhấn mạnh phải tăng cường tranh tụng tại phiên tòa và Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định thành nguyên tắc: Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (khoản 5, Điều 103)

2. Ở nước ta mô hình tố tụng là xét hỏi, mặc dù chủ trương cải cách tư pháp đã đề ra tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, nhưng cho đến nay tranh tụng vẫn chưa có sự chuyển biến gì đáng kể, cả về nhận thức lẫn trong các hoạt động thực tiễn về xây dựng pháp luật và xét xử tại phiên tòa. Sở dĩ như vậy, theo tôi do các nguyên nhân sau đây:

Một là, về nhận thức, trong tư duy của những chức danh tư pháp có thẩm quyền trong các quan hệ tố tụng từ điều tra viên đến kiểm sát viên và thẩm phán đều tự cho mình có quyền năng cao hơn, đứng trên các chủ thể khác không những là bị cáo, các đương sự mà cả đối với luật sư, người trợ giúp pháp lý cho thân chủ. Quan hệ thiếu bình đẳng đó, làm sao có thể tạo ra được bầu không khí thật sự dân chủ? quan tâm, chú ý lắng nghe ý kiến của người khác? Có thể nói quyền uy nhà nước vẫn còn giữ ưu thế trong các mối quan hệ tố tụng tư pháp đặc biệt là tố tụng hình sự. Những vụ án oan sai gần đây được đưa ra công luận cho thấy rằng  còn có tình trạng mớm cung, bức cung, không chú ý lắng nghe ý kiến của luật sư, tiếng kêu oan của những người vô tội. Suy cho cùng những biểu hiện đó là do nhận thức thiếu bình đẳng trong quan hệ tố tụng tư pháp. Mệnh lệnh quyền uy trong các quan hệ hành chính nhà nước được đem vào trong các quan hệ tố tụng tư pháp hay nói ngắn gọn là hành chính hóa các quan hệ tố tụng trong tư pháp. Mô hình tố tụng xét hỏi là mô hình mà một bên có quyền hỏi và bên kia phải có nghĩa vụ trả lời. Vì thế rất dễ tạo ra cho các chức danh tư pháp quyền uy, mệnh lệnh, thiếu dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ tố tụng tư pháp. Để tranh tụng hình thành, điều trước tiên là phải thay đổi nhận thức, trước hết là thay đổi nhận thức của các chức danh tư pháp (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán) tạo lập môi trường và mối quan hệ dân chủ, bình đẳng, xóa bỏ yếu tố quyền uy mệnh lệnh hành chính trong các quan hệ tố tụng tư pháp.

Hai là, về pháp luật tố tụng hiện hành ở nước ta chưa phân định được rạch ròi, minh bạch chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ví dụ như viện kiểm sát vừa thực hành chức năng buộc tội (là một bên trong quan hệ tranh tụng) lại vừa thực hiện chức năng kiểm sát và tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng (mà đều là các chủ thể tranh tụng với mình). Nếu nhận thức không đúng, Viện kiểm sát khó có sự bình đẳng, dân chủ trong tranh tụng. Còn tòa án, trong quan hệ tố tụng tại phiên tòa đáng ra là người trọng tài ngọa sơn quan hổ đấu để xem cuộc tranh tụng giữa một bên là Viện kiểm sát và các bên khác trong quan hệ tố tụng, nhưng pháp luật lại quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung, có trách nhiệm chứng minh tội phạm... Chính vì thế, việc tranh tụng tại phiên tòa khó được thực hiện, phiên tòa không có điều kiện diễn ra trong không khí dân chủ và tôn trọng tiếng nói của các bên tham gia tố tụng. Chất lượng tranh tụng giữa kiểm sát viên, người giữ quyền công tố và luật sư còn rất hạn chế, còn mang tính hình thức, không xem tranh tụng là trách nhiệm là nghĩa vụ của mình, là phương tiện, là cách thức tìm ra chân lý. Hội đồng xét xử nhiều lúc làm thay chức năng của bên buộc tội (công tố), dành thời gian xét hỏi nhiều hơn là ngồi nghe hai bên tranh tụng.

Pháp luật tố tụng tư pháp chưa làm rõ vị trí, vai trò, chức năng của Tòa án là người trọng tài, người phán quyết. Do vậy, Tòa án được quan niệm như là một cơ quan tiến hành tố tụng giống như các cơ quan tiến hành tố tụng khác (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát). Ví dụ điều 13 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm. Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra; Điều 63: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh có hành vi phạm tội… ai là người phạm tội…; Điều 65: Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền triệu tập…; Điều 179: Thẩm phán  ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án, khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác. Từ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nêu trên có thể thấy rằng Tòa án không khác gì cơ quan điều tra, cơ quan truy tố. Tòa án cũng có trách nhiệm chứng minh và có quyền thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, đồng nhất trách nhiệm Tòa án với trách nhiệm của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát.

Trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa, pháp luật tố tụng hình sự quy định nặng về hỏi đáp của Hội đồng xét xử làm cho cơ quan buộc tội không chủ động, tích cực trong tranh luận. Ví dụ điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa… Để tranh tụng thì đáng ra Viện kiểm sát là cơ quan buộc tội phải chủ động trình bày quan điểm chứng cứ buộc tội của mình, trên cơ sở đó bên gỡ tội chứng minh quan điểm gỡ tội của mình. Hội đồng xét xử chứng kiến, xem xét đánh giá cuộc tranh tụng đó; chứ không phải là người lãnh đạo tại phiên tòa, là một bên tranh tụng.

3. Từ thực trạng nói trên, để thực hiện nguyên tắc hiến định tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, theo chúng tôi cần có những đổi mới căn bản sau đây:

Một là, Hiến pháp sửa đổi  năm 2013 đã có quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp (khoản 1, điều 102) và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (khoản 5, điều 103). Đây là hai quy định mới thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với tổ chức và hoạt động tư pháp. Vì thế cần có nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn các quy định này của Hiến pháp sửa đổi. Hiến pháp sửa đổi lần này quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp điều đó có nghĩa là công bằng và công lý của một quốc gia, trước hết và chủ yếu biểu hiện điển hình và tập trung nhất ở việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Theo đó, bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng để công bằng và công lý của một quốc gia được thể hiện. Có thể nói thực hiện quyền tư pháp và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm có quan hệ chặt chẽ với nhau như hình với bóng, Không thể thực hiện quyền tư pháp nếu thiếu tranh tụng trong hoạt động xét xử. Ngược lại, chỉ có tranh tụng được bảo đảm thì quyền tư pháp mới được thể hiện. Nếu thừa nhận mối quan hệ hữu cơ như vậy thì phải có một sự đổi mới về tư duy và nhận thức; phải coi trọng tranh tụng; tạo lập cho được môi trường thật sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa. Ở đó, Hội đồng xét xử là những trọng tài chủ tọa cuộc tranh tụng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết.

Hai là, thể chế hóa nguyên tắc hiến định tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự và các luật có liên quan. Theo đó, cần phải thể chế một số nội dung sau đây:

+  Tòa án thực hiện quyền tư pháp tức là thực hiện quyền xét xử. Những gì không thuộc quyền xét xử không nên giao cho Tòa án như quyền khởi tố vụ án hình sự; có trách nhiệm chứng minh tội phạm và trong trường hợp Viện kiểm sát thì Hội đồng xét xử vẫn phải nghị án...

+ Về Viện kiểm sát phải quy định rõ tại phiên tòa, Viện kiểm sát có chức năng buộc tội. Kiểm sát việc xét xử của Tòa án tại phiên tòa chủ yếu được thực hiện thông qua việc buộc tội (thực hành quyền công tố).

+ Coi trọng quyền chứng minh của người bị buộc tội; không nên xem đây là nghĩa vụ của họ. Vì vậy, pháp luật phải tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, bình đẳng hơn nữa cho luật sư, người trợ giúp pháp lý tham gia vào hoạt động tố tụng.

Gs. Ts Trần Ngọc Đường

                                                                                                                            http://www.daibieunhandan.vn

 

20. Chủ động tham mưu, phục vụ công tác tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo

Tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đại biểu dân cử; là biện pháp thiết thực tăng cường mối liên hệ, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Xác định nhiệm vụ quan trọng đó, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã chủ động tham mưu, phục vụ công tác tiếp dân và đôn đốc việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo (KNTC) của công dân.

 

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Đoàn ĐBQH, Thường trực và đại biểu HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức được nhiều cuộc tiếp dân định kỳ và đột xuất tại các cơ quan, tiếp dân tại huyện, tiếp nhận hàng trăm đơn thư KNTC, kiến nghị của công dân. Nội dung KNTC tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực đất đai, bồi thường đất và tài sản trên đất khi giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển KT – XH; chế độ, chính sách đối với người có công với Cách mạng, chế độ bảo hiểm xã hội; thi hành án dân sự. Xác định tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đại biểu dân cử; là biện pháp thiết thực tăng cường mối liên hệ, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã làm rất tốt công tác tham mưu, phục vụ tiếp dân và đôn đốc việc giải quyết đơn thư KNTC của công dân. Đối với hoạt động tiếp dân, Văn phòng đã bố trí cán bộ và chuyên viên có kiến thức pháp luật phụ trách công tác tiếp dân, tham mưu các hoạt động liên quan đến công tác tiếp dân, xử lý đơn thư KNTC của công dân. Đối với những nội dung KNTC, Văn phòng xử lý, phân loại, tham mưu cho Thường trực HĐND và Đoàn ĐBQH tỉnh gửi công văn yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết và trả lời. Ngoài ra, hàng năm Văn phòng đều tham mưu cho Thường trực, đại biểu HĐND tỉnh tổ chức tiếp công dân ở những huyện có nhiều đơn thư KNTC. Tiếp công dân tại các địa phương là một mô hình mới, được thực hiện trong quá trình HĐND tỉnh Hà Tĩnh tham gia Dự án Tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri. Sau một thời gian thực hiện, hoạt động tiếp dân tại các huyện đã tạo điều kiện cho công dân có thể trình bày trực tiếp với đại biểu HĐND, các ngành chức năng và lãnh đạo địa phương tại buổi tiếp dân về những bức xúc, tâm tư nguyện vọng và kiến nghị cụ thể của mình đối với các chính sách của địa phương mà họ là người chịu tác động. Trên cơ sở ý kiến của người dân, đại biểu HĐND tỉnh yêu cầu các cơ quan hữu quan của huyện tiếp thu và có ý kiến phản hồi tại chỗ hoặc ghi nhận để tiếp tục xem xét, xử lý. Đối với những vụ việc phức tạp, đề nghị lãnh đạo địa phương tổ chức đoàn khảo sát thực địa để xem xét kỹ kiến nghị của công dân. Mô hình này được đánh giá cao, đề nghị nhân rộng.

Văn phòng cũng tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động kỳ họp của HĐND. Trong đó có nội dung yêu cầu đại biểu HĐND tỉnh thường xuyên xuống cơ sở nắm bắt thông tin về những ý kiến, kiến nghị, đề xuất của cử tri, định kỳ báo cáo Thường trực HĐND tỉnh để xem xét, phục vụ cho hoạt động giám sát, giao cho cơ quan hữu quan trả lời, giải quyết kiến nghị cử tri và phục vụ cho nội dung chất vấn tại kỳ họp HĐND.

Đối với công tác xử lý, đôn đốc việc giải quyết KNTC của công dân, bên cạnh việc bố trí cán bộ thường xuyên tiếp nhận, nghiên cứu, chuyển đơn, theo dõi việc giải quyết, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh còn xây dựng quy trình ISO nhằm bảo đảm công tác tham mưu, phục vụ trong hoạt động này đạt chất lượng, hiệu quả cao. Với việc xây dựng quy trình ISO, trong đó quy định rõ ngày tiếp nhận, ngày chuyển đơn, dự kiến ngày nhận báo cáo, phân loại đơn, thẩm quyền giải quyết… đã giúp cho công tác theo dõi, đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC được thực hiện thuận tiện, hiệu quả. Sau khi chuyển đơn, trong thời gian luật định, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải có báo cáo để đại biểu trả lời cho công dân. Trường hợp không có phản hồi, Văn phòng tham mưu văn bản đôn đốc việc giải quyết hoặc tham mưu cho Đoàn ĐBQH, HĐND trực tiếp giám sát vụ việc nhằm bảo đảm các vụ việc được giải quyết đúng quy trình luật định.

Nhìn chung, công tác tham mưu, phục vụ đối với việc tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC của công dân được Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Hà Tĩnh chủ động thực hiện. Cán bộ, chuyên viên được phân công phục vụ tiếp dân luôn tận tình hướng dẫn chu đáo cho công dân. Khi xử lý đơn thư, không chỉ tiếp nhận và chuyển đơn, xét thấy vụ việc nào phức tạp, Văn phòng nghiên cứu, tham mưu đề xuất Thường trực HĐND, Đoàn ĐBQH tỉnh cho ý kiến về vấn đề đó hoặc tổ chức giám sát. Đây cũng là hình thức giữ mối liên hệ thường xuyên với cử tri của đại biểu dân cử, để khi công dân có những vấn đề thắc mắc, bức xúc… thì đặt niềm tin và tìm đến đại biểu dân cử để được xem xét, giải quyết.

Thực tế cho thấy, để thực hiện tốt hơn công tác tiếp dân, đôn đốc giải quyết đơn thư KNTC của công dân, một trong những yêu cầu đặt ra là cần nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác này. Ngoài nghiệp vụ chuyên môn, cán bộ tiếp dân còn phải là những người có bản lĩnh, trung thực, có tinh thần trách nhiệm cao; đồng thời biết kiên nhẫn, lắng nghe ý kiến của dân, giải thích cho dân rõ về pháp luật và hướng dẫn công dân chuyển khiếu nại đúng địa chỉ. Cần tăng cường tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm cho đại biểu QH, HĐND các cấp, cán bộ Văn phòng phụ trách công tác tiếp dân.

Thực tế cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các đơn thư KNTC để khắc phục những chồng chéo trong quá trình xem xét, giải quyết KNTC của công dân trong lĩnh vực hành chính và tư pháp. Có hình thức động viên, khích lệ người dân KNTC đúng sự thật; đồng thời thẳng thắn phê bình và xử lý nghiêm những trường hợp cố chấp, lợi dụng quyền tự do của công dân để phục vụ cho lợi ích cá nhân, KNTC sai sự thật, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Đối với những vụ việc đã giải quyết đúng pháp luật, hết thẩm quyền thì kiên quyết không xem xét, tránh việc lợi dụng khiếu kiện dai dẳng.

Trần Viết Hậu

Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Hà Tĩnh

http://www.daibieunhandan.vn

Xem 1063 lần Chỉnh sửa lần cuối vào 16:25 08/01/2014