Một số trao đổi về dự thảo quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan

26/11/2014

 

 

Ảnh nguồn Internet

Cùng với các chương trình cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan để thực hiện Chiến lược Hải quan đến năm 2020, nâng cao trách nhiệm phục vụ của công chức hải quan và tính tuân thủ của doanh nghiệp, vừa qua ngành Hải quan đã xây dựng dự thảo nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Qua nghiên cứu dự thảo và để mở rộng đường dư luận, góp tiếng nói cùng ngành Hải quan đưa các hoạt động trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với tình hình thực tế,  tôi xin trao đổi một số ý kiến sau:

Thứ nhất, việc ban hành một nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan là cần thiết để đảm bảo phù hợp với quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật Hải quan (sửa đổi) và Luật Quản lý thuế (sửa đổi, bổ sung); đồng thời đảm bảo góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và trách nhiệm của các cơ quan thực thi pháp luật cho phù hợp với tiến trình hội nhập sâu vào khu vực và thế giới của nước ta. Việc ban hành các quy định về xử phạt vi phạm hành chính một cách rõ ràng, minh bạch không những giúp cho việc tuân thủ pháp luật hải quan được nghiêm minh mà còn là công cụ để ngành Hải quan thực hiện chức năng quản lý của mình.

Thứ hai, nội dung các điều khoản cần được cụ thể hóa, chi tiết để giúp cho việc thực thi và tuân thủ tốt hơn. Chẳng hạn như quy định về xử phạt vi phạm về khai hải quan cần phải bao quát tất cả các loại hình khai báo bao gồm cả loại hình hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu và chuyển cảng, chuyển cửa khẩu chứ không chỉ có hai loại hình khai hải quan là hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu như trong dự thảo nghị định. Đối với xử phạt liên quan đến hồ sơ thanh khoản thì dự thảo nghị định chỉ mới đề cấp đến doanh nghiệp trong khu phi thuế quan bị xử phạt khi lập và khai không đúng các nội dung trong hồ sơ thanh khoản. Như vậy là chưa đầy đủ vì còn cả loại hình doanh nghiệp nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và gia công xuất khẩu cũng có liên quan đến hồ sơ thanh khoản.

Thứ ba, đối với quy định về xử phạt các hành vi trốn thuế gian lận thuế cần quy định sát với thực tiễn. Chẳng hạn như cần bổ sung việc xử phạt đối với hành vi bán hàng miễn thuế không đúng tiêu chuẩn vào dự thảo nghị định vì nếu chỉ quy định đối tượng như trong dự thảo nghị định thì rất dễ bị bỏ sót hành vi bán hàng miễn thuế không đúng tiêu chuẩn định lượng quy định. Đây là thực tiễn ở nước ta do đang áp dụng chế độ bán hàng miễn thuế cho đối tượng khách nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại sân bay quốc tế của Việt Nam khi nhập cảnh. Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan đang thí điểm hoàn thuế VAT cho khách du lịch là người nước ngoài đã mua hàng hóa ở nội địa sẽ được hoàn thuế VAT khi xuất cảnh. Trong đó, phi hành đoàn là người nước ngoài, khách xuất cảnh là người Việt Nam thì không được hưởng ưu đãi này. Do đó, đề nghị bổ sung thêm quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hoàn thuế hàng miễn thuế không đúng với đối tượng quy định.

Thứ tư,cần xác định rõ thẩm quyền xử phạt của các cơ quan quản lý nhà nước đối với một số hành vi để tạo sự thống nhất giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện. Dự thảo nghị định quy định hành vi “Quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh không đúng nội dung giấy phép của cơ quan có thẩm quyền”. Quy định như vậy sẽ không rõ về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Cảng vụ trong lĩnh vực hàng hải được quy định tại khoản 5 Điều 14, Nghị định số 48/2011/NĐ-CPđối với trường hợp phương tiện vận tải là tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hoặc rời cảng không đúng với nội dung ghi trong Giấy phép rời cảng (Port Clearance) do Cảng cụ hàng hải cấp cho tàu.

Để thống nhất cách hiểu trong triển khai thực hiện xử phạt vi phạm hành chính, dự thảo nghị định nên phân chia các hành vi trên theo hướng tách riêng các hành vi vi phạm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh do Hải quan xử phạt. Còn phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnhdo cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành xử phạt. Ví dụ: Máy bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh vi phạm sẽ do Cảng vụ hàng không xử phạt; tàu biển vi phạm do Cảng vụ hàng hải xử phạt.

Thứ năm, việc quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định hàng hóa nhập khẩu quá thời hạn làm thủ tục hải quan, hàng hóa không có chủ sở hữu, hàng hóa nhập khẩu buộc phải đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc phải tái xuất nên xem xét đến tập quán, quy định về thương mại quốc tế để vừa đảm bảo việc xử phạt khách quan vừa có tính thực tiễn trong quá trình áp dụng

Dự thảo nghị định có nêu trường hợp hàng hóa nhập khẩu không đúng với hợp đồng mà người nhận hàng từ chối nhận, sau 30 ngày thông báo mà không có người đến nhận sẽ bị tịch thu hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm. Quy định như vậy là chưa phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người bán giao hàng cho người mua không đúng chất lượng, số lượng... như cam kết trong hợp đồng nên người mua từ chối không nhận hàng. Do điều kiện về khoảng cách địa lý, hay một số điều kiện khách quan khác mà người bán không thể xử lý sự việc trong thời hạn 30 ngày được hoặc việc nhận lại hàng lại tốn kém hơn là từ bỏ. Do đó, dự thảo nghị định nên quy định đối với trường hợp này cần có đơn từ bỏ của người bán hoặc người được người bán ủy quyền để dễ áp dụng trong thực tiễn. Hơn nữa, nếu người bán không từ bỏ mà tìm cách tái xuất lô hàng đi nước thứ 3 thì việc xử phạt lại càng không thể áp dụng theo quy định nhưtrong dự thảo nghị định được mặc dù thời hạn đã quá 30 ngày.

Cuối cùng, để đảm bảo dễ dàng cho người thực thi cũng như người bị xử phạt, hạn chế tối đa tham nhũng, tiêu cực, tuỳ tiện áp dụng mức phạt thì việc quy định cụ thể mỗi hành vi chỉ có một mức phạt như Hải quan một số nước áp dụng là hết sức cần thiết. Việc xử phạt vi phạm hành chính sẽ có hiệu quả hơn nếu ngành Hải quan liệt kê đầy đủ, chi tiết các hành vi vi phạm và áp dụng mỗi hành vi một mức phạt duy nhất khi thực hiện xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực hải quan.

Thiết nghĩ, nghị định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan nên được xây dựng trên cơ sở xác định rõ ràng các hành vi vi phạm phù hợp với thông lệ quốc tế, tập quán hải quan, theo định hướng hội nhập để mỗi cá nhân, tổ chức, doanh  nghiệp khi tham gia kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam dễ hiểu, dễ chấp hành. Việc xử phạt đảm bảo mang tính răn đe, nhắc nhở, hạn chế các hành vi vi phạm và ngăn ngừa các hành vi bao che, thông đồng và trục lợi khi thực hiện các thủ tục hành chính./.

 

                                           Trần Thoang, phòng Kiểm soát TTHC khối KTTH

 
 
 
Xem 1218 lần Chỉnh sửa lần cuối vào 11:24 26/04/2013