Phương hướng hoàn thiện thủ tục Đăng ký sang tên, di chuyển đối với trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người

26/11/2014

Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện đang gây những phản ứng trái chiều trong xã hội. Nhiều người cho rằng, quy định này là làm khó cho dân. Tiếp cận vấn đề dưới góc độ cải cách thủ tục hành chính như thế nào?

Ngày 19 tháng 9 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Theo đó, Nghị định 71/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền đối với chủ phương tiện không thực hiện hành vi chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định. Quy định xử phạt vi phạm hành chính này xuất phát từ quy phạm nội dung quy định về đăng ký; đăng ký sang tên, di chuyển tại Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12 tháng 10 năm 2010 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe. Tiếp đó, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 11/2013/TT-BCA và Thông tư số 12/2013/TT-BCA có nhiều thông tin trái chiều từ báo chí, dư luận.

Tiếp cận vấn đề dưới góc độ cải cách thủ tục hành chính chúng tôi có mấy ý kiến như sau:

 Thứ nhất, theo Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12 tháng 10 năm 2010 của Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, hồ sơ, thời hạn giải quyết thủ tục Đăng ký xe; Đăng ký sang tên, di chuyển xe thì mục tiêu của việc này là đảm bảo xác định quyền sở hữu tài sản của chủ phương tiện để khi xảy ra tranh chấp có cơ sở pháp lý chứng thực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

 Lập luận này là không ổn vì đây hoàn toàn là quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, nếu xử phạt vi phạm hành chính thì vô hình trung pháp luật đã can thiệp quá sâu vào đời sống dân sự của nhân dân. Quyền của công dân phải do công dân, tổ chức tự do lựa chọn. Nếu không thực hiện thì ảnh hưởng đến lợi ích của chính bản thân cá nhân, tổ chức đó.

Thứ hai, cũng theo Thông tư trên thì đăng ký xe hoặc đăng ký sang tên, di chuyển còn là nghĩa vụ của chủ sở hữu phương tiện như một hình thức cung cấp thông tin với cơ quan quản lý hành chính nhà nước để khi vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng có thông tin để truy nguyên nguồn gốc xe, từ đó đưa ra biện pháp xử lý phù hợp (phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền) và cũng là hình thức thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước.

Theo góc độ này thì cơ quan nhà nước là chủ thể được “lợi” nhiều nhất từ việc cá nhân, tổ chức thực hiện đăng ký; đăng ký sang tên, di chuyển. Vậy thì thủ tục liên quan đến nội dung trên phải thực sự dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện.

Từ những phân tích trên đây rõ ràng chủ xe không đăng ký sang tên, di chuyển là có lỗi, nhưng lỗi này cũng có phần trách nhiệm từ phía cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, để quy định này được người dân tự nguyện đón nhận, tự nguyện làm thủ tục mỗi khi thực hiện việc bán, cho, tặng thì phải rà soát thủ tục hành chính theo hướng tinh giản, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Ngày 01 tháng 3 năm 2013, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-BCA sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 20 Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 quy định về đăng ký xe. Thông tư 12/2013/TT-BCA được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ, thủ tục đơn giản theo hướng cho người đi đăng ký tự cam kết, chịu trách nhiệm về xe làm thủ tục (đối với trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người). Với trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển nhượng xe, cơ quan đăng ký xe có trách nhiệm gửi thông báo đến người đứng tên trong đăng ký xe, niêm yết công khai, tra cứu tàng thư xe mất cắp và dữ liệu đăng ký xe để cấp đăng ký. Tuy nhiên, việc này vẫn có thể tiếp tục đơn giản hóa; cụ thể:

 Đối với Hồ sơ đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh

Yêu cầu lấyxác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đang sử dụng xe thường trú trong Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe là chưa hợp lý, gây tốn kém chi phí cho đối tượng tuân thủ. Mục đích của việc xác nhận này là để xác thực về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe. Mục đích này hoàn toàn có thể thay bằng biện pháp: Xuất trình hộ khẩu (trong hộ khẩu có nội dung về địa chỉ thường trú) thay vì người dân phải mất thời gian, công sức đến công an xã và chờ đợi kiểm tra, xác minh địa chỉ (tối đa trong 3 ngày)

Đối với Hồ sơ Đăng ký sang tên, di chuyển xe từ tỉnh này sang tỉnh khác

Quy định thành phần hồ sơ sang tên, di chuyển nơi chuyển đi không rõ mục đích thủ tục. Thông tư 12/2013/TT-BCA quy định cá nhân phải đến cơ quan Công an nơi chuyển đi thực hiện sang tên, di chuyển xe để rút gồ sơ gốc, tiếp đó đến cơ quan Công an nơi chuyển đến làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển. Tuy nhiên, hồ sơ sang tên, di chuyển nơi chuyển đi cũng bao gồm những thành phần hồ sơ của thủ tục Đăng ký sang tên gồm: Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe có xác nhận của Công an xã; chứng từ chuyển nhượng… Như vậy, vô hình dung, người dân phải làm thủ tục đăng ký tại cả hai nơi, nơi chuyển đi và nơi chuyển đến. Quy định hồ sơ sang tên, di chuyển nơi chuyển đi mang bản chất của hồ sơ đăng ký sang tên, di chuyển là tư duy sai về mục đích của quy trình thủ tục này.

Mặt khác, trong khi quy định thành phần hồ sơ sang tên, di chuyển xe nơi chuyển đi không xuất phát từ mục đích của quy trình thủ tục thì Hồ sơ đăng ký sang tên, di chuyển xe nơi chuyển đến không đầy đủ giấy tờ, thành phần của một thủ tục Đăng ký; Đăng ký sang tên, di chuyển; cụ thể: Thiếu chứng từ chuyển nhượng của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển nhượng của người bán cuối cùng (là giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe). Quy định như vậy là không xuất phát từ bản chất của thủ tục và không thống nhất, đồng bộ với quy định về Đăng ký; Đăng ký sang tên, di chuyển. Trường hợp cơ quan soạn thảo lý giải rằng thành phần hồ sơ này đã được cung cấp trong khi người dân làm thủ tục tại cơ quan Công an nơi chuyển đi thì phạm một lỗi là đã đồng nhất cơ quan Công an có thẩm quyền chuyển hồ sơ gốc nơi chuyển đi với cơ quan có thẩm quyền đăng ký sang tên nơi chuyển đến.

Cũng trong Thông tư, quy định người dân phải đến hai nơi (cơ quan công an nơi chuyển đi và cơ quan công an nơi chuyển đến) thì về mặt quy trình là chưa hợp lý và gây tốn kém chi phí cho người dân. Mục đích của quy trình làm thủ tục tại cơ quan Công an nơi chuyển đi là để người dân có thể rút hồ sơ gốc, chuyển đến cơ quan đăng ký ở tỉnh khác, phục vụ mục đích thống nhất quản lý thông tin, dữ liệu hồ sơ về một đầu mối. Vậy thì có thể thực hiện liên thông trong hai quy trình thủ tục này theo hướng người dân chỉ phải đến một nơi là cơ quan Công an nơi đến để làm thủ tục Đăng ký sang tên, di chuyển xe. Cơ quan đầu mối này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan liên quan để chuyển hồ sơ gốc thống nhất về một nơi.

Một số giải pháp, phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng để đơn giản hóa thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người dân thực hiện thủ tục và để quy định đi vào cuộc sống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi thủ tục Đăng ký sang tên, di chuyển (đối với trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người) tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, bãi bỏ quy định lấy xác nhận của công an xã nơi người đi đăng ký thường trú tại Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe. Quy định người đi đăng ký mang theo Hộ khẩu để xuất trình.

Thứ hai, bãi bỏ quy trình sang tên, di chuyển tại cơ quan công an nơi chuyển đi. Thực hiện liên thông hai quy trình thủ tục sang tên, di chuyển tại cơ quan có thẩm quyền nơi chuyển đi và đăng ký sang tên, di chuyển tại cơ quan có thẩm quyền nơi chuyển đến. Quy định người dân đến một nơi là cơ quan Công an (nơi chuyển đến) để làm thủ tục Đăng ký sang tên, di chuyển xe. Cơ quan chủ trì có trách nhiệm phối hợp với cơ quan liên quan để chuyển hồ sơ gốc về một đầu mối./.

 

Tạ Thị Hải Yến

Phòng KSTTHC Khối Nội chính