Xử phạt hành vi “Không chuyển quyền sở hữu phương tiện” hay hành vi “mua, bán xe không sang tên”?

26/11/2014

Ảnh: Ngọc Dũng

 

Ngày 01 tháng 3 năm 2013, Bộ Công an ban hành Thông tư số 11/2013/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2010 và Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Về nội dung xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định, Thông tư quy định: không được dừng xe để kiểm soát, xử lý hành vi “Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” khi xe đang lưu thông trên đường (Khoản 1, Điều 9); mà thông qua công tác đăng ký, cấp biển số; điều tra, giải quyết tai nạn giao thông; qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; các trường hợp phương tiện vi phạm bị tạm giữ theo quy định và qua điều tra các vụ án hình sự, nếu phát hiện người mua hoặc người bán không làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe theo quy định thì phải xác minh, xác định rõ hành vi vi phạm: “mua, bán xe không sang tên” và xử phạt trường hợp quá thời gian 30, kể từ ngày làm giấy tờ mua, bán xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe theo quy định (Khoản 2, Điều 9).

 

Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008: xe cơ giới khi lưu hành phải có đăng ký và biển kiểm soát do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (Khoản 3, Điều 53); cơ quan có thẩm quyền cấp, thu hồi đăng ký và biển số xe cơ giới các loại là Bộ Công an trừ các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng (Điều 54). Tại Thông tư số 36/2010/TT-BCA, Bộ Công an quy định trách nhiệm của chủ xe cơ giới phải làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký khi mua, bán, cho, tặng xe cơ giới. Như vậy, nội dung của Điều 9 Thông tư số 11/1013/TT-BCA quy định xử phạt đối với hành vi không thực hiện sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký khi mua, bán, cho, tặng xe cơ giới là có cơ sở. Tuy nhiên, tên của Điều 9: Xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định (Điểm e Khoản 3 và Điểm c Khoản 6 Điều 33 của Nghị định số 34) không chính xác, vì Điều 33 của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP không có Điểm e Khoản 3 và Điểm c Khoản 6 quy định về nội dung này và Điều 33 đã được sửa đổi, bổ sung bằng Điều 1 khoản 8 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP, đồng thời không phù hợp với nội dung của Điều này. Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không quy định việc cá nhân, tổ chức phải đăng ký quyền sở hữu xe cơ giới (ô tô, xe mô tô, xe gắn máy,..); do vậy, khi mua, bán, chuyển nhượng, cho, tặng xe cơ giới, thời điểm chuyển quyền sở hữu được tính từ khi tài sản được chuyển giao (Điều 168 Bộ luật Dân sự 2005). Như vậy, việc Nghị định số 71/2012/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi “Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” là không phù hợp với quy định của pháp luật, theo đó tên của Điều 9 Thông tư số 11/2013/TT-BCA cũng không phù hợp. Từ đó, dẫn đến khó giải thích, dễ gây hiểu nhầm đối với việc xử phạt hay không xử phạt hành vi: “Không chuyển quyền sử hữu phương tiện theo quy định” hay “mua, bán xe không sang tên”.

 

Để việc xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói chung và đối với hành vi “mua, bán xe không sang tên” nói riêng đi vào cuộc sống, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan cần nghiên cứu, đề xuất sửa Điều 1 khoản 8 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP theo hướng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Không sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký khi mua, bán, cho, tặng xe cơ giới theo quy định” thay cho hành vi “Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định” và nghiên cứu để quy định mức phạt hợp lý đối với các trường hợp đi làm thủ tục “đăng ký xe” trong trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người theo quy định tại Thông tư số 12/2012/TT-BCA ngày 01 tháng 3 năm 2013 của Bộ Công an; đồng thời sửa lại tên Điều 9 Thông tư số 11/2013/TT-BCA cho phù hợp./.

 

Vũ Ngọc Dũng

Cục Kiểm soát thủ tục hành chính