Kiểm tra chuyên ngành lĩnh vực nông nghiệp: Thực trạng và giải pháp (Bài 1)

06/06/2018

Bài 1. Thực trạng kiểm tra chuyên ngành lĩnh vực nông nghiệp
Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật (theo Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ). Kiểm tra chuyên ngành là cần thiết để bảo đảm chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác kỹ thuật, kinh tế và thương mại quốc tế. Tuy nhiên, việc kiểm tra chuyên ngành quá mức cần thiết đang là lực cản cơ bản đối với nỗ lực cải thiện chỉ số “giao dịch thương mại qua biên giới”, làm tăng chi phí bất hợp lý và tạo gánh nặng quá mức đối với doanh nghiệp.

 

Số lượng sản phẩm, hàng hóa kiểm tra chuyên ngành còn lớn và chồng chéo
Theo thống kê, các sản phẩm hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 118 nhóm sản phẩm hàng hóa (kiểm tra chất lượng là 31; kiểm tra an toàn thực phẩm là 35; kiểm dịch là 52) với 7.698 dòng hàng. Số lượng, hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành cụ thể là: kiểm dịch động vật là 327 sản phẩm, hàng hóa; kiểm dịch thủy sản 454; kiểm dịch thực vật là 637; kiểm tra chất lượng giống thủy sản nhập khẩu 1755; kiểm tra chất lượng thuốc bảo vệ thực vật là 43; kiểm tra chất lượng thuốc thú y là 2971; kiểm tra chất lượng thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường là 61; kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi là 186, kiểm tra chất lượng giống cây trồng là 160,… kiểm tra an toàn thực phẩm thủy sản là 194, kiểm tra an toàn thực phẩm thực phẩm là 317,…

Thực tế, trong số sản phẩm, hàng hóa trên còn nhiều sản phẩm, hàng hóa thực hiện nhiều hình thức kiểm tra chuyên ngành gồm: kiểm dịch động vật trên cạn, kiểm dịch động vật thủy sản, kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 của nhiều cơ quan trong nội bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với một số Bộ như: Bộ Y tế, Bộ Công thương), cụ thể như sau:

 Thứ nhất, chồng chéo giữa các Bộ: Hàng hóa vừa phải kiểm dịch vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm hoặc kiểm tra chất lượng; ví dụ mặt hàng sữa, nguyên liệu sản xuất sản phẩm sữa, sữa bột, dầu, bơ khan, sữa chua, thực phẩm dinh dưỡng làm từ sữa cho trẻ em (kiểm dịch của Bộ nông nghiệp; kiểm tra an toàn thực phẩm theo quy định tại Bộ Công thương tại (Thông tư 25/2016/TT-BNN; Quyết định 5051/QĐ-BCT ngày 26tháng 12năm 2016; 4755/QĐ-BCT ngày 21/12/2017); Bột mỳ, bột mail đã rang-nguyên liệu làm men thực phẩm; sản phẩm từ tinh bột sắn và sản phẩm thay thế chế biến từ tinh bột, ở dạng mảnh, hạ, bột xay, bột rây, hay các dạng tương tự (vừa phải thực hiện kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp và Kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Công thương tại Quyết định 5051/QĐ-BCT ngày 26tháng 12năm 2016; 4755/QĐ-BCT ngày 21/12/2017; Thông tư số 30/204/TT-BNN); Nước,  kể cả nước khoáng  (chồng chéo kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn với kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ y tế, Bộ Công thương (Phụ lục 22 Thông tư 24/2017/TT-BNNPTNT và Nghị định 15/2018/NĐ-CP),...

Thứ hai, chồng chéo trong nội bộ các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như: Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc động vật: Chịu sự kiểm tra của Cục Chăn nuôi (kiểm tra chất lượng) và Cục Thú y (kiểm dịch);  Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc thực vật: Chịu sự kiểm tra của Cục Chăn nuôi (kiểm tra chất lượng) và Cục Bảo vệ thực vật (kiểm dịch);  Nguyên liệu thức ăn thủy sản có nguồn gốc động vật: Chịu sự kiểm tra của Tổng cục Thủy sản (kiểm tra chất lượng) và Cục Thú y (kiểm dịch); Nguyên liệu thức ăn thủy sản có nguồn gốc thực vật: Chịu sự kiểm tra của Tổng cục Thủy sản (kiểm tra chất lượng) và Cục Bảo vệ thực vật (kiểm dịch); Giống Thủy sản: Chịu sự kiểm tra của Tổng cục Thủy sản (kiểm tra chất lượng) và Cục Thú y (kiểm dịch); Kén tằm, côn trùng: Chịu sự kiểm dịch của Cục Bảo vệ thực vật và Cục Thú y;  Sản phẩm động vật trên cạn vừa phải kiểm dịch động vật vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Thủy sản, sản phẩm thủy sản vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm vừa phải kiểm dịch thủy sản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Bên cạnh chồng chéo về danh mục sản phẩm hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, phương thức kiểm tra đều thực hiện trước khi thông quan hàng hóa và danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành khi xuất/nhập khẩu còn rộng, chưa áp dụng quản lý rủi ro.;ví dụ vẫn thực hiện kiểm dịch đối với những hàng hóa đã qua chế biến sâu, nguy cơ dịch bệnh không nhiều chẳng hạn nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác hay hương liệu, và đồ uống không chứa cồn khác; phụ phẩm dạng thịt  ăn được sau giết mổ dạng muối, ngâm nước muối, làm khô hoặc hun khói (thịt lợn muối xông khói, xúc xích và các sản phẩm tương tự làm từ thịt, từ phụ phẩm dạng thịt); sữa và kem, đã cô đặc hoặc pha thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác; bột mịn và bột thô ăn được làm từ thịt hoặc phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ; thực phẩm ở dạng đông lạnh,… (những loại hàng hóa này hiện tại phải thực hiện cả kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm).
 
Ảnh, Tạ Thị Hải Yến

Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn duy trì hình thức quản lý sản phẩm hàng hóa theo danh mục được phép sản xuất, kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Điều này làm cho danh mục được phép sản xuất, kinh doanh với số lượng vô cùng lớn; ví dụ riêng danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hiện được quy định tại 42 văn bản (từ năm 2004 tới nay); danh mục phân bón được phép sản xuât, kinh doanh được quy định tại 17 văn bản,...
 
Thực trạng quy định về thủ tục kiểm tra chuyên ngành
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống kê có 64 thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành. Trong đó, tình trạng quy định thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Thứ nhất, chồng chéo về mục tiêu quản lý, cùng mục tiêu đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu cá nhân, tổ chức phải thực hiện một số thủ tục hành chính như: thủ tục công bố hợp chuẩn, hợp quy; chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; tiếp nhận thông báo hợp chuẩn, hợp quy; thủ tục cấp chứng nhận lưu hành tự do; cấp chứng thư cho lô hàng thủy sản xuất khẩu; khảo nghiệm và công nhận sản phẩm vào danh mục được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam; kiểm tra chuyên ngành khi xuất/nhập khẩu, chứng nhận thủy sản khai thác, xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác,…;

Ví dụ: Đối với giống cây trồng nhập khẩu phải có giấy chứng nhận hợp quy (Điểm a, Khoản 1, Điều 4 Thông tư 46/2015/TT-BNNPTNT. Đồng thời giống cây trồng cũng thuộc danh mục hàng hóa nhóm 2 phải kiểm tra chất lượng nhập khẩu và cũng là đối tượng phải thực hiện kiểm dịch thực vật theo Thông tư 30/2014/TT-BNNPTNT;
Hay xuất khẩu thủy sản, cá nhân, tổ chức phải thực hiện các thủ tục như: công bố hợp chuẩn, hợp quy; chứng nhận lưu hành tự do (Điều 10 Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg); cấp chứng thư cho lô hàng thủy sản xuất khẩu (Thông tư 48/2013/TT-BNNPTNT); chứng nhận thủy sản khai thác, xác nhận thủy sản khai thác,…

Thứ hai, một mặt hàng xuất khẩu/nhập khẩu phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính để có đầy đủ hồ sơ xuất khẩu/nhập khẩu theo quy định của Việt Nam, ví dụ: hàng hóa thực vật nhập khẩu vào Việt Nam phải thực hiện một loạt các thủ tục như: Đăng ký của nước xuất khẩu để được đưa vào danh mục các cơ sở được phép xuất khẩu vào Việt Nam (Điều 9 Thông tư 12/2015/TT-BNNPTNT) (chỉ những cơ sở được đưa vào danh mục này mới được xuất khẩu vào Việt Nam); Cấp giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu (Điều 28 Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật); Đăng ký kiểm dịch thực vật nhập khẩu (Điều 7 Thông tư 33/2014/TT-BNNPTNT); công bố, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; cấp giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (Trường hợp hàng hóa nhập khẩu là thực phẩm chế biến bao gói sẵn) (Điều 9 Thông tư 12/2015/TT-BNNPTNT); Thủ tục kiểm tra chất lượng thực vật nhập khẩu (Điều 16 Thông tư 12/2015/TT-BNNPTNT).

Thứ ba, một số thủ tục kiểm tra chuyên ngành chỉ đơn thuần kiểm tra về mặt hồ sơ, giấy tờ và cảm quan, không lấy mẫu xét nghiệm nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm tra chuyên ngành tại cơ quan có thẩm quyền quản lý chuyên ngành (ví dụ đối với sản phẩm động vật thủy sản theo quy định tại Thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT sau khi nhập khẩu, đưa hàng về kho bảo quản, Cục Thú ý chỉ kiểm tra hồ sơ, cảm quan hàng hóa và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch. Tuy nhiên, cá nhân, tổ chức vẫn phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về kiểm tra chuyên ngành như: Đăng ký kiểm dịch nhập khẩu tại Cục Thú ý . Sau đó cá nhân, tổ chức tiếp tục thực hiện thủ tục khai báo kiểm dịch nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật với cơ quan tiến hành kiểm dịch để thống nhất thời gian, địa điểm trước khi hàng về cửa khẩu và cuối cùng thực hiện kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật tại cửa khẩu nhập (Thông tư 26/2016/TT-BNN). Ngoài ra còn phải thực hiện thủ tục kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm,…

Thứ tư, thủ tục hành chính quy định phức tạp theo hướng cắt khúc từng khâu, từng công đoạn, bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện trong từng hoạt động liên quan đến sản xuất, kinh doanh; ví dụ: chuỗi thủ tục kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu, cá nhân, tổ chức phải thực hiện một loạt thủ tục là: Đăng ký kiểm dịch nhập khẩu tại Cục Thú ý để được văn bản đồng ý kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu và hướng dẫn tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu. Sau đó cá nhân, tổ chức tiếp tục thực hiện thủ tục khai báo kiểm dịch nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật để được cơ quan thú y vùng quyết định và thông báo cho tổ chức, cá nhân đăng ký kiểm dịch về địa điểm, thời gian để tiến hành kiểm dịch theo quy định (trước khi hàng về cửa khẩu, Điều 46 Luật Thú y); xác nhận để làm thủ tục và chuyển động vật đến khu cách ly kiểm dịch hoặc đến địa điểm đã được kiểm tra, có đủ điều kiện để cách ly kiểm dịch (Điều 47 Luật Thú y); sau khi tiến hành kiểm dịch, Cục Thú y Cấp Giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu đối với động vật đạt yêu cầu vệ sinh thú y và thông báo cho cơ quan quản lý chuyên ngành thú y nơi đến Điều 47 Luật Thú y; kiểm dịch tại các trạm đầu mối giao thông; kiểm dịch trong giết mổ, sản xuất, gia công, chế biến; kiểm dịch khi đóng khay để bán, tiếp tục thực hiện thủ tục kiểm dịch tại nơi xuất phát, kiểm dịch xuất khẩu (nếu sản phẩm nhập khẩu để làm nguyên liệu để gia công, chế biến hàng xuất khẩu)… Các thủ tục về kiểm dịch vừa quản lý theo đầu vào, theo đầu ra và cả quá trình sản xuất, kinh doanh trong từng công đoạn đối với cùng một mặt hàng.

Thứ năm, thủ tục vừa cấp phép nhập khẩu, vừa cấp phép khảo nghiệm chuyên ngành, vừa kiểm tra chuyên ngành khi nhập khẩu, ví dụ các thủ tục liên quan đến khảo nghiệm giống cây trồng, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón khi nhập khẩu phải thực hiện tất cả các thủ tục cấp phép và kiểm tra chuyên ngành…

Thứ sáu, nội dung kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm có sự chồng lấn, chưa phân định nội hàm xét nghiệm các chỉ tiêu về kiểm dịch với kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm dẫn tới chưa phân định thẩm quyền về kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm. Theo Luật Thú y và các văn bản hướng dẫn, kiểm dịch ngoài nội dung về xét nghiệm các bệnh còn có nội dung kiểm tra về chất tồn dư, kim loại nặng, hóa chất, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng và chất độc hại (Luật Thú y và, Điều 12 Thông tư 25/2016/TT-BNN; thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT). Luật An toàn thực phẩm cũng có nội dung kiểm tra về chất tồn dư, kim loại nặng, hóa chất, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng và chất độc hại; Hay, các nội dung kiểm tra cấp chứng nhận chất lượng có lâý mẫu xét nghiệm và kiểm tra chất lượng cả đối với nội dung về bệnh lý. Cả thủ tục kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đều thực hiện là kiểm tra về cảm quan, kiểm tra về các chỉ tiêu vệ sinh thú y, tiêu chuẩn chất lượng, quy định về an toàn thực phẩm đảm bảo động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu đạt chất lượng hàng hóa.

Theo Khoản 3, Điều 40 Luật An toàn thực phẩm giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, ... thuộc lĩnh vực phân công quản lý. Thông tư 25/2010/TT-BNN quy định về kiểm tra chất lượng động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu đã hết hiệu lực. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có văn bản thay thế. Thông tư 25/2016/TT-BNNPTNT (Điều 8, 9) và Thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn; kiểm dịch động vật,sản phẩm động vật thủy sản quy định nội dung kiểm dịch bao gồm cả kiểm dịch, xét nghiệm các loại bệnh; đối với sản phẩm động vật: xét nghiệm các chỉ tiêu lý hóa, vi sinh vật theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia hiện hành; ngoài ra còn kiểm tra giám sát các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, chất tồn dư độc hại đối với động vật giết mổ làm thực phẩm, sản phẩm phẩm động vật nhập khẩu làm thực phẩm (kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng và các chát độc hại khác) đối với động vật, sản phẩm động vật trên cạn nhập khẩu. Do đó nội dung kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm là chồng chéo.

Việc không xác định rõ nội hàm kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm dẫn đền việc trong danh mục sản phẩm hàng hóa phải kiểm dịch thì hầu hết danh mục này đều chồng chéo với kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc của Bộ công thương; của Bộ y tế; ví dụ: (1) Sản phẩm vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm trong danh mục kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với kiểm dịch trong danh mục phải kiểm dịch: thịt; sản phẩm thủy sản,.../(2) Sản phẩm vừa chồng chéo kiểm tra an toàn thực phẩm trong danh mục an toàn thực phẩm của Bộ Công thương với kiểm dịch: Sữa chua, bơ, format,... (3) Sản phẩm vừa kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, vừa kiểm dịch động vật: Men sống, sáp ong, cánh kiến. Đồng thời dẫn đến hệ quả, một sản phẩm hàng hóa phải chịu nhiều thủ tục kiểm tra chuyên ngành, gây tốn kém chi phí cho cá nhân, tổ chức.

Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo yêu cầu các Bộ cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành rà soát và đang hoàn thiện phương án đơn giản hóa sản phẩm, hàng hóa, thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành đáp ứng theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ./.

Tạ Thị Hải Yến,
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính