Điểm “nghẽn” trong việc thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp - Thực trạng và giải pháp

30/01/2019

Ngày 17/6/2009, tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật lý lịch tư pháp, theo đó, việc quản lý lý lịch tư pháp nhằm các mục đích đó là: Đáp ứng yêu cầu cần chứng minh cá nhân có hay không có án tích, ghi nhận việc xoá án tích, hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, thống kê tư pháp hình sự, công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã,… (Điều 3 Luật lý lịch tư pháp). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp còn có những bất cập, vướng mắc cần được xử lý.

Thứ nhất, về vấn đề liên quan đến trường hợp đương nhiên được xóa án tích
Một trong những mục đích của quản lý lý lịch tư pháp đó là “Ghi nhận việc xoá án tích” và nội dung về “xoá án tích” cũng đã được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2009 và nay là Bộ Luật hình sự năm 2017 tại Điều 70. Theo đó,  trường hợp xóa án tích thông qua việc “ghi nhận việc xóa án tích” vào lý lịch tư pháp của người đương nhiên được xóa án tích đã được quy định tại khoản 1 Điều  33 Luật lý lịch tư pháp, cụ thể:“1. Trường hợp người bị kết án đương nhiên được xoá án tích thì Sở Tư pháp thực hiện việc cập nhật thông tin như sau:
a) Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích của Tòa án thì ghi “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó;
b) Khi xác định người bị kết án có đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích theo quy định của Bộ luật hình sự thì ghi “đã được xóa án tích” vào Lý lịch tư pháp của người đó”.
Có thể khẳng định, xóa án tích là một chế định mang tính nhân đạo của pháp luật hình sự, thể hiện sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang án tích nữa và vì vậy không phải tiếp tục gánh chịu hậu quả do việc kết án mang lại. Theo đó, Bộ luật hình sự 2015 đã quy định có 3 trường hợp xóa án tích đó là được nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế vướng mắc nảy sinh từ những quy định liên quan đến trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Khoản 4 Điều 70 Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định về đương nhiên được xóa án tích “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc 3 Điều này”. Với quy định này, trên thực tiễn thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với những trường hợp có án tích và đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích đã gặp những vướng mắc, bất cập. Ví dụ: Ngày 01/01/2010, anh Nguyễn Văn A đã bị Tòa án nhân dân huyện B tỉnh X xét xử về tội trộm cắp tài sản với mức hình phạt là 18 tháng tù giam nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng. Ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành, anh A đã thực hiện xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và đến ngày 01/12/2017 không thực hiện hành vi phạm tội mới. Ngày 01/12/2017 anh A đến Sở Tư pháp tỉnh X để đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp đã thực hiện tra cứu thông tin lý lịch tư pháp của anh A trên hệ thống cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đã xây dựng nhưng không có thông tin lý lịch tư pháp của anh A. Đồng thời, đã đề nghị cơ quan Công an tra cứu thông tin lý lịch tư pháp theo quy định và có kết quả trả lời: “có án tích”. Trong trường hợp này đã có 2 quan điểm khác nhau liên quan đến việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp của anh Nguyễn Văn A, sau khi có kết quả tra cứu của cơ quan công an về tình trạng “có án tích”, thì Sở Tư pháp tỉnh X sẽ tiếp tục thực hiện quy trình xác minh, thu thập tài liệu để làm cơ sở cấp Phiếu lý lịch tư pháp với nội dung về tình trạng án tích: Không có án tích vì cho rằng anh A đủ điều kiện về đương nhiên được xóa án tích. Và đây là một trong những quy trình liên quan đến việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Với quan điểm cá nhân, thấy rằng sau khi có kết quả xác minh của cơ quan công an về tình trạng án tích của anh A, Sở Tư pháp tỉnh X sẽ thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp với nội dung về tình trạng án tích là “Có án tích”. Còn việc Sở Tư pháp thực hiện các thủ tục thu thập Bản án, quá trình thi hành bản án và các thông tin về nhân thân của anh A không nằm trong quy trình về cấp Phiếu lý lịch tư pháp, mà đây là một quy trình riêng về thủ tục trong xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Sở Tư pháp, do đó sẽ phù hợp với quy định của Luật lý lịch tư pháp và quy định về đương nhiên xóa án tích theo quy định tại khoản 4 Điều 70 Bộ Luật hình sự. Trong trường hợp này nếu xác minh để cấp Phiếu lý lịch tư pháp sẽ dẫn đến tình trạng “quá hạn” về giải quyết thủ tục hành chính trong cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
 
Ảnh: Người dân làm thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp. Nguồn: Internet
 
Thứ hai, về việc ủy quyền làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp gồm 2 loại: Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Trong đó, Phiếu lý lịch tư pháp số 1 được cấp cho cá nhân và cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cấp cho cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình. Do có sự khác biệt giữa nội dung của Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2 nên Luật Lý lịch tư pháp quy định cá nhân không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Đồng thời, Luật Lý lịch tư pháp cũng quy định rõ mục đích cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cho cá nhân là để người đó biết nội dung về lý lịch tư pháp của mình (khoản 2 Điều 45). Theo đó, khi cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 không được ủy quyền cho người khác mà phải trực tiếp thực hiện, điều đó gây ra rất nhiều khó khăn cho người dân trong thực hiện thủ tục.
Thứ ba, về ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
 Luật lý lịch tư pháp quy định, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp như sau: Công dân Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú; trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh; người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú; trường hợp đã rời Việt Nam thì nộp tại Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia (Điều 45, 46). Theo quy định này thì công dân khi có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền. Theo đó thì hộ khẩu của người xin cấp ở tỉnh, thành phố nào buộc người xin cấp phải về sở tư pháp tỉnh, thành phố đó xin cấp phiếu, quy định này gây khó cho những người đi công tác xa nơi đăng ký thường trú, nhất là công dân đi du học, người nước ngoài, phải mất nhiều thời gian và chi phí.
Nhằm khắc phục bất cập của việc cấp Phiếu theo mô hình truyền thống, đồng thời rút ngắn thời gian, giảm số lần đi lại cho công dân có nhu cầu cấp Phiếu, qua tham mưu của Bộ Tư pháp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/QĐ-TTg ngày 08/01/2015 phê duyệt Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Đến tháng 10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, giao trách nhiệm cho Bộ Tư pháp xây dựng hệ thống và hướng dẫn thực hiện trên toàn quốc đối với việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Mặc dù đạt nhiều kết quả nhưng việc triển khai cung cấp dịch vụ công mức độ 3 trong cấp Phiếu lý lịch tư pháp còn tồn tại một số khó khăn, nổi bật là nhiều trường hợp công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài chỉ cần có một văn bản điện tử xác nhận thông tin về Phiếu lý lịch tư pháp từ cơ quan cấp Phiếu, thay vì nhận bản giấy Phiếu lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, pháp luật về lý lịch tư pháp chưa cho phép điều này nên để có thông tin về lý lịch tư pháp của bản thân, người có nhu cầu cấp Phiếu phải đợi để nhận bản giấy và phải trả một khoản phí bưu chính không nhỏ cho việc nhận Phiếu, gây mất nhiều thời gian và tiền bạc. Ngoài ra, hiện nay cũng chưa có cơ chế pháp lý cụ thể cho phép áp dụng các giải pháp thanh toán trực tuyến thông qua hình thức chuyển khoản hoặc thanh toán thông qua các cổng thanh toán trực tuyến. Bên cạnh đó, mặc dù thực hiện việc cung cấp dịch vụ công mức độ 3 trong cấp phiếu lý lịch tư pháp nhưng thực tế người dân vẫn phải đồng thời nộp hồ sơ giấy để thực hiện thủ tục, điều đó cũng gây ra rất nhiều phiền toái, bất cập.
Thứ tư, về việc lạm dụng yêu cầu cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 và bảo mật thông tin cá nhân
Theo quy định của Luật lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp số 1 được cấp cho cá nhân và cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Phiếu lý lịch tư pháp số 2 được cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cấp cho cá nhân để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình. Người từng bị kết án mà án tích đã được xóa khi yêu cầu được cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì tình trạng án tích sẽ ghi “không có án tích”. Thế nhưng, cùng người này nếu yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì thông tin án tích đã được xóa sẽ bị nêu ra đầy đủ ngày tháng năm tuyên án, số bản án, tòa án đã xử, tội danh… Hiện nay, một số cơ quan đang lạm dụng, yêu cầu người dân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 trong những trường hợp không thực sự cần thiết. Việc sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cho nhiều mục đích, ở nhiều cơ quan đã gây nguy cơ lộ bí mật đời tư của công dân. Quy định xóa án tích nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội không bị phân biệt đối xử sau khi chấp hành án thể hiện sâu sắc tính nhân đạo của Nhà nước. Thế nhưng, việc vẫn phải khai lại án tích dù đã được xóa và nộp bản khai đó theo yêu cầu của đơn vị không thực sự liên quan, không có chức trách, nhiệm vụ trong quản lý Nhà nước hay tiến hành tố tụng lại khiến công dân bị mặc cảm, thiệt thòi. Theo con số thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy, số lượng yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của công dân Việt Nam ngày càng tăng, cụ thể: Năm 2016 cấp 99.141 phiếu, năm 2017 cấp 121.335 phiếu và năm 2018 cấp 165.851 phiếu. Thực tế giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho thấy, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chủ yếu để bổ túc hồ sơ đi lao động nước ngoài, bổ túc hồ sơ xin cấp thị thực nhập cảnh... Việc lạm dụng yêu cầu cá nhân phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 ảnh hưởng tới quyền được pháp luật bảo đảm bí mật cá nhân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự. Ngoài ra, vấn đề này còn gây ảnh hưởng đến chủ trương tái hoà nhập cộng đồng đối với người đã từng bị kết án, đặc biệt là người đã được xoá án tích, gây khó khăn cho cá nhân khi tham gia các quan hệ pháp lý; gây tốn kém chi phí xã hội không cần thiết.
Để khắc phục các bất cập nêu trên, cần thiết phải thực hiện các giải pháp sau:
Một là, để giải quyết các vướng mắc, nhiều ý kiến đề nghị cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên Phân hệ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Cụ thể, có chức năng xác thực người dùng để ngay sau khi người đăng ký gửi bản chụp (có màu), hoặc dữ liệu điện tử của các giấy tờ cần thiết và thanh toán đầy đủ phí qua hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của cơ quan cấp Phiếu, cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể thẩm tra, tiếp nhận và tiến hành các thủ tục để cấp Phiếu ngay mà không cần phải yêu cầu người dân nộp hồ sơ giấy. Đến khi có kết quả cấp Phiếu, cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp sẽ đối chiếu, kiểm tra lại hồ sơ giấy của công dân được gửi đến trước khi chuyển trả Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân. Đặc biệt, cần phải có những quy định mở nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho những trường hợp công dân Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài, người nước ngoài có thời gian sinh sống ở Việt Nam và hiện đang sinh sống ở nước ngoài, người nước ngoài có thời gian sinh sống ở Việt Nam và hiện đã về nước có thể nhận được Phiếu lý lịch tư pháp một cách thuận tiện, giảm thiểu tối đa các khoản lệ phí phát sinh. Theo đó, có thể nghiên cứu áp dụng Phiếu lý lịch tư pháp điện tử (có xác nhận thông qua chữ ký số của Thủ trưởng cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp) để trong trường hợp người đăng ký cấp Phiếu không cần bản giấy Phiếu lý lịch tư pháp thì có thể gửi trả Phiếu lý lịch tư pháp điện tử qua email.
Hai là, cần rà soát để đưa ra phương án loại bỏ yêu cầu cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 không đúng mục đích.
Ba là, để đáp ứng thực tiễn, Luật lý lịch tư pháp, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật lý lịch tư pháp cần có những quy định bổ sung thêm trường hợp cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người đã có án tích và đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích nhưng thông tin về án tích của người này chưa được xây dựng trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, từ đó góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính của cá nhân.
Bốn là, nghiên cứu sửa đổi quy định về thẩm quyền cấp Phiếu theo hướng người dân có thể yêu cầu bất kỳ cơ quan có thẩm quyền tại bất cứ địa phương nào thực hiện việc cấp Phiếu cho mình thay cho quy định thẩm quyền cấp Phiếu theo nơi đăng ký hộ khẩu như hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu cho phép ủy quyền làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.
Năm là, để giải quyết tình trạng lạm dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2, cần phải sửa đổi quy định của Luật lý lịch tư pháp trong việc tiếp cận, sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Theo đó, cần quy định chặt chẽ hơn về hình thức, đối tượng được quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân./.
 
Nguyễn Thị Bích Ngân,
Cục Kiểm soát TTHC