Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành tài liệu hướng dẫn bộ chỉ số Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0

03/04/2019

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cái thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2019 và định hướng đến năm 2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành tài liệu hướng dẫn về bộ chỉ số Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) và Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF).

Về bộ chỉ số Môi trường kinh doanh
 
Ảnh minh họa

 
Theo tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing business) của Ngân hàng Thế giới lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003, xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định.

Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…).

Thứ ba, đo lường mức độ bảo vệ quyền sở hữu (ví dụ, bảo vệ nhà đầu tư).

Thứ tư, đo lường gánh nặng thuế và các khoản phải nộp của doanh nghiệp.

Thứ năm, đánh giá các khía cạnh khác nhau trong quy định về việc làm.

Các chỉ số về môi trường kinh doanh được thiết kế và xây dựng theo chu kỳ vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các thủ tục từ khi thành lập đến khi thực hiện giải thể, phá sản.

Báo cáo Doing business đo lường quy trình Khởi sự kinh doanh, Cấp phép xây dựng, Tiếp cận điện năng, Đăng ký tài sản, Tiếp cận tín dụng, Bảo vệ nhà đầu tư, Giao dịch thương mại qua biên giới, Nộp thuế và bảo hiểm xã hội, Giải quyết tranh chấp hợp đồng và Giải quyết phá sản doanh nghiệp. Các chỉ số chủ yếu được đánh giá trên các tiêu chí: Số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và chỉ số đo lường chất lượng các quy định. Theo cách tính các chỉ số Doing Business của Ngân hàng thế giới, thời gian được tính theo năm dương lịch, đo lường thời gian trung bình cần thiết để hoàn thành một thủ tục với cơ quan nhà nước và không tính chi phí không chính thức. Thời gian tối thiểu cho mỗi thủ tục là một ngày, trừ thủ tục thực hiện hoàn toàn bằng điện tử (thủ tục online được tính là ½ ngày). Một số thủ tục có thể thực hiện đồng thời, nhưng giả định không thực hiện trong cùng một ngày mà bắt đầu từ ngày kế tiếp. Ngoài ra, với mỗi chỉ số, báo cáo tập trung xem xét những quy định pháp luật liên quan thúc đẩy hay hạn chế hoạt động kinh doanh theo từng chỉ tiêu, cũng như so sánh với thực tiễn tốt nhất trong tất cả các nền kinh tế. Kết quả được quy đổi thành điểm số để làm căn cứ đánh giá mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh doanh nghiệp; những thay đổi mà mỗi nền kinh tế đạt được qua từng năm và thứ hạng khi so sánh với các quốc gia khác.

Báo cáo Doing Business không chỉ xem xét chất lượng các quy định pháp luật mà còn chú trọng cả hiệu quả thực thi trên thực tế. Theo đó, các quy định phải vừa dễ hiểu và vừa dễ tuân thủ. Báo cáo này chỉ đánh giá mức độ cải cách trong từng lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó. Báo cáo cũng không đánh giá toàn bộ các lĩnh vực của môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, hay mức độ cạnh tranh và triển vọng đầu tư nước ngoài của nền kinh tế. Chẳng hạn, báo cáo không phân tích quy mô thị trường, mức độ của thị trường tài chính, các yếu tố kinh tế vĩ mô, đầu tư nước ngoài, các vấn đề an ninh và ổn định chính trị.

Dù vậy, các chỉ số trong báo cáo Doing Business vẫn cung cấp những thông tin rất chi tiết để các nhà hoạch định chính sách xác định được những lĩnh vực nên cải cách và hoàn thiện. Các kết quả trong báo cáo đã thúc đẩy quá trình thảo luận về chính sách trên toàn thế giới và tạo điều kiện tăng cường nghiên cứu về ảnh hưởng của các quy định ở cấp độ doanh nghiệp tới kết quả hoạt động chung của các nền kinh tế. Cũng từ những thực tiễn tốt được triển khai, năng lực cạnh tranh, năng suất và hiệu quả của nền kinh tế tăng lên rõ rệt. Có thể nói, Báo cáo Doing Business là một nguồn đánh giá độc lập, khách quan về mức độ thuận lợi của các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; từ đó phản ánh môi trường kinh doanh tại mỗi nền kinh tế.

Về bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum – WEF) thực hiện thường niên, xuất bản lần đầu vào năm 1979. Báo cáo này nghiên cứu và xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Thời gian đầu, báo cáo nhằm mục tiêu đưa ra các vấn đề và thúc đẩy thảo luận giữa các bên có liên quan về chiến lược và chính sách để giúp các quốc gia khắc phục các trở ngại và cải thiện năng lực cạnh tranh. Từ năm 2005, WEF sử dụng Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu như một công cụ để đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia; những điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế các nước. Xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới cũng phản ánh các nhân tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh của một quốc gia, vốn cũng là các yếu tố cơ bản đối với tăng trưởng kinh tế bền vững.

Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết đơn giản nhưng vững chắc trong khi vẫn đảm bảo khả năng mở rộng nghiên cứu và giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu được thực tế. Trước năm 2018, khung chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu có ba nền tảng, gồm: Các lợi thế tự nhiên, Năng lực cạnh tranh vĩ mô và Năng lực cạnh tranh vi mô. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi mạnh mẽ, phân cực chính trị và sự phục hồi kinh tế mong manh, WEF đã thay đổi cách thức đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, chú trọng tới yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn và nâng cao thu nhập của người dân. Với cách tiếp cận mới, chỉ số này có tên gọi mới là Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0. Do cách tiếp cận khác nhau nên xếp hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 không so sánh được với xếp hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu trước đây.

Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) được xác định dựa trên một tập hợp mới các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chỉ số này đánh giá các yếu tố quyết định mức độ năng suất của một quốc gia – động lực quan trọng nhất để cải thiện mức sống trong dài hạn. GCI 4.0 đo lường theo 12 động lực (trụ cột) của năng suất, gồm: Thể chế, Cơ sở hạ tầng, Ứng dụng CNTT, Ổn định kinh tế vĩ mô, Y tế, Kỹ năng, Thị trường hàng hóa, Thị trường lao động, Thị trường tài chính, Quy mô thị trường, Năng động trong kinh doanh, Năng lực đổi mới sáng tạo. Có tổng số 98 chỉ số được đánh giá và nhóm thành 4 mục là: môi trường kinh doanh, nguồn nhân lực, thị trường và hệ sinh thái đối mới sáng tạo. Mười hai trụ cột trong GCI 4.0 phảnh ánh quy mô và mức độ phức tạp của các yếu tố động lực thúc đẩy tăng năng suất và năng lực cạnh tranh. Với cách tiếp cận mới, GCI 4.0 có cách tính điểm mới, từ 0 đến 100 (tốt nhất, điểm tới hạn), tính bằng trung bình cộng của điểm 12 trụ cột. Mỗi trụ cột được tính bằng điểm trung bình của các chỉ tiêu thành phần. Từng chỉ tiêu thành phần lại được tính bằng điểm trung bình của các chỉ tiêu nhỏ hơn (nếu được quy định). Cách tính điểm này nhấn mạnh rằng năng lực cạnh tranh không phải là cuộc chơi bằng không mà có thể được cải thiện ở tất cả các nền kinh tế.

Chỉ số xếp hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố và kết quả từ khảo sát ý kiến các doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế. Trong 98 chỉ tiêu được đánh giá, có 44 chỉ tiêu lấy kết quả từ bảng khảo sát của WEF; 94 chỉ tiêu còn lại lấy dữ liệu từ các nguồn, báo cáo khác.
 
Ảnh minh họa
 

Theo kết quả xếp hạng của WEF năm 2018, chỉ số GCI 4.0 của Việt Nam giảm 3 bậc (từ 74 xuống vị trí 77) nhưng điểm tuyệt đối cải thiện 0,2 điểm với 4/12 trụ cột tăng điểm. Đáng chú ý là 7/12 trụ cột giảm điểm. Điều này cho thấy, Việt Nam có cải thiện về năng lực cạnh tranh 4.0, nhưng chậm và thiếu bền vững. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia. Có thể thấy, Việt Nam đang tụt lại đằng sau các nước ASEAN về năng lực cạnh tranh 4.0. Muốn tiến kịp các nước trong khu vực đòi hỏi phải đẩy nhanh quá trình phát triển theo xu thế 4.0; tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh; ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, trong đó có lĩnh vực hành chính công; nâng cao hiệu quả các thị trường; có cơ chế khuyến khích, thúc đẩy tính sáng tạo, năng động trong kinh doanh thay vì tư duy tạo rào cản để quản lý./.

Tâm Vũ
Cục Kiểm soát TTHC