Xếp hạng Môi trường kinh doanh Việt Nam năm 2019 và phương hướng cải thiện trong thời gian tới

28/10/2019

(Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

 

Có thể thấy rằng, dù có sự tăng điểm từ 68,6 năm 2018 lên 69,8 điểm năm 2019, nhưng đây là năm thứ hai liên tiếp chúng ta có sự giảm bậc, mỗi năm giảm 01 bậc. Điều đó cho thấy, chúng ta tuy có sự cải cách, tiến bộ so với chính mình, nhưng cải cách còn chậm, chưa quyết liệt so với nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

So sánh với mục tiêu Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về cải thiện môi trường kinh doanh, có thể đánh giá chung là chúng ta chưa đạt mục tiêu. Nghị quyết số 02 xác định mục tiêu về thứ bậc, không xác định mục tiêu về điểm số, việc tăng thứ bậc đề ra đối với chỉ số DB nói chung và từng chỉ số thành phần cụ thể nói riêng. Với tổng số 11 mục tiêu cụ thể, có 03 chỉ số thành phần chúng ta đạt, 07 chỉ số thành phần không đạt và mục tiêu chung là tăng 3-5 bậc trong xếp hạng DB cũng chưa đạt được.

07 chỉ số thành phần về Khởi sự kinh doanh, Đăng ký tài sản, Cấp phép xây dựng, Tiếp cận điện năng, Giải quyết tranh chấp hợp đồng, Giao dịch thương mại qua biên giới, Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số chúng ta đều không tăng, do đó không đạt mục tiêu. Trong đó, 03 chỉ số thành phần tăng điểm nhưng bị giảm hoặc giữ nguyên bậc là: Khởi sự kinh doanh, Cấp phép xây dựng, Tiếp cận điện năng; 04 chỉ số thành phần giữ nguyên điểm và giảm bậc là Đăng ký tài sản, Giải quyết tranh chấp hợp đồng, Giao dịch thương mại qua biên giới, Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số. Khách quan mà nói, có một số cải cách trong lĩnh vực Khởi sự kinh doanh diễn ra trong năm 2019 nhưng ở thời điểm sau khi Ngân hàng Thế giới đã thu thập các thông tin, dữ liệu đánh giá nên các cải cách này chưa được ghi nhận trong năm nay và chúng ta chưa cải thiện được thứ hạng của chỉ số thành phần này. Ngoài ra, chỉ số Tiếp cận điện năng đã tăng nhiều bậc trong nhiều năm liên tiếp và đến nay dư địa cải cách không nhiều nên việc tăng bậc là rất khó khăn; chỉ số Cấp phép xây dựng cũng xếp ở thứ hạng khá cao nên việc duy trì và cải thiện thứ hạng cũng là một thách thức không nhỏ.

03 mục tiêu đạt là đối với các chỉ số thành phần Nộp thuế và Bảo hiểm xã hội, Tiếp cận tín dụng và Phá sản doanh nghiệp. Trong đó, Nộp thuế và bảo hiểm xã hội và Tiếp cận tín dụng vừa có sự tăng điểm vừa tăng bậc đáng kể, còn chỉ số Phá sản doanh nghiệp dù tăng 11 bậc nhưng chúng ta bị giảm 0,1 điểm và đây là chỉ số duy nhất giảm điểm trong năm 2019.
 
Các yếu tố MTKD và các chỉ tiêu đo lường DB2019
(190 nền kinh tế)
DB2019 (điểm số điều chỉnh theo DB2020)
 
DB2020
(190 nền kinh tế)
Tăng (+), Giảm (-) điểm Tăng (+), Giảm (-) thứ hạng
Điểm (DTF) Thứ hạng Điểm (DTF) Thứ hạng
Môi trường
kinh doanh
68.36 69  68.6 69.8 70 +1.2 -1
Khởi sự kinh doanh 84.82 104 84.8 85.1 115 +0.3 -11
Cấp phép xây dựng 79.05 21 79 79.3 25 +0.3 -4
Tiếp cận điện năng 87.94 27 87.9 88.2 27 +0.3
Đăng ký tài sản 71.09 60 71.1 71.1 64 -4
Tiếp cận tín dụng 75.00 32 75.00 80.00 25 +5.0 +7
Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số 55.00 89 54.00 54.00 97 -8
Nộp thuế và BHXH 62.87 131 62.9 69.00 109 +6.1 +22
Giao dịch thương mại qua biên giới 70.83 100 70.8 70.8 104 -4
Giải quyết tranh chấp hợp đồng 62.07 62 62.1 62.1 68 -6
Giải quyết phá sản doanh nghiệp 34.93 133 38.1 38.00 122 -0.1 +11
 
Bảng so sánh các chỉ tiêu đo lường Môi trường kinh doanh theo kết quả xếp hạng năm 2018 và 2019
 
Như vậy, về điểm số của 10 chỉ số thành phần, chúng ta có 05 chỉ số tăng điểm, 04 chỉ số giữ nguyên và chỉ có 01 chỉ số giảm điểm; về thứ bậc chúng ta có 03 chỉ số tăng bậc, 01 chỉ số giữ nguyên và 06 chỉ số giảm bậc. Một kết quả cho thấy cần phải nỗ lực nhiều hơn.

Nhìn sang các quốc gia ASEAN, Singapore duy trì ổn định vị trí thứ 2 thế giới từ năm 2016 đến nay, Malaysia liên tiếp trong hai năm gần đây tăng 12 bậc, Thái Lan tăng 20 bậc năm 2017 và tiếp tục tăng 6 bậc năm 2019. Đáng chú ý, các quốc gia đứng sau chúng ta như Philippines tăng tới 29 bậc trong năm 2019, Indonesia từ năm 2018 chững lại nhưng đã tăng 42 bậc trong 3 năm từ 2014 đến 2017. Trong ASEAN hiện nay, chúng ta đang xếp ở vị trí thứ 5, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei. Như vậy là cải cách môi trường kinh doanh ở Việt Nam gần đây có xu hướng chững lại, một số chỉ số trong nhiều năm không cải thiện hoặc cải thiện rất chậm.

Để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam trong thời gian tới đúng như kỳ vọng và quyết tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì mục tiêu cải cách phải được hiện thực hóa bằng hành động của các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần có sự vào cuộc quyết liệt hơn của Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao. Một số phương hướng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với các chỉ số nhiều năm không có cải thiện hoặc cải thiện không đáng kể (như Giao dịch thương mại qua biên giới, Đăng ký tài sản, Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số...), cần có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các bộ, ngành liên quan trong việc sửa đổi ngay các quy định, thủ tục hành chính và cải cách thực thi để tạo sự chuyển biến.

Thứ hai, đối với các chỉ số còn có sự khác biệt lớn giữa quy định của văn bản và quá trình thực thi (như Cấp phép xây dựng), cần có các giải pháp đôn đốc, kiểm tra, chấn chỉnh ngay nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của quy định, đảm bảo minh bạch, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp. Việc thực thi trên thực tế mới là điều mà các chuyên gia Ngân hàng Thế giới ghi nhận, chứ không phải những cải cách về quy định trên giấy tờ.

Thứ ba, đối với hai chỉ số thuộc lĩnh vực tư pháp là Giải quyết tranh chấp hợp đồng và Phá sản doanh nghiệp - nhiều năm liên tục chúng ta ở cuối bảng xếp hạng, thì cần có sự vào cuộc thực sự, sự phối hợp chặt chẽ của ngành Tòa án với các cơ quan của Chính phủ để sớm tạo sự thay đổi một cách có ý nghĩa.

Thứ tư, đối với một số quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội (như quy định về làm con dấu, thủ tục thông báo mẫu dấu tại Luật Doanh nghiệp), Chính phủ cần quyết liệt tham mưu đẩy nhanh tiến độ Quốc hội thông qua và ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung, để sớm có sự cải thiện về quy định và thực thi trên thực tế.
Thứ năm, các nhiệm vụ về cải cách thể chế, quy định, thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến... cần tiếp tục được thực hiện một cách có hiệu quả để rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Thứ sáu, để triển khai một cách có hiệu quả các giải pháp đã đề ra, Chính phủ cần tiếp tục quyết liệt trong đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện, nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm, biểu dương các bộ, cơ quan làm tốt và phê bình các bộ, cơ quan làm chưa tốt nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia./.
 
Nguyễn Thị Trà Lê, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính