Tiếp tục thực hiện cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành năm 2020

07/02/2020

Năm 2019, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phương án xử lý tập trung đầu mối đối với 25 nhóm sản phẩm, hàng hóa còn chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành, tương đương với 1.012 dòng hàng tính theo mã số HS ở cấp độ 8 chữ số, và tương ứng với 1.501 mặt hàng. Năm 2020, tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020, Chính phủ tiếp tục xác định phải thực hiện cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành; hoàn thành rà soát, cắt giảm thực chất 50% số mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành.

Xử lý chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành năm 2019
Năm 2019, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã rà soát, thống kê và có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các sản phẩm, hàng hóa phải chịu sự kiểm tra chuyên ngành của nhiều cơ quan, đơn vị (Công văn số 6208/BTC-TCHC ngày 30/5/2019). Theo báo cáo, ngoài những sản phẩm, hàng hóa đã được thống nhất đầu mối kiểm tra chuyên ngành theo kết quả rà soát năm 2018, năm 2019, Bộ Tài chính còn thống kê được 25 nhóm sản phẩm, hàng hóa còn chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành; cùng lúc phải thực hiện nhiều thủ tục, hình thức trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành, tương đương với 1.012 dòng hàng tính theo mã số HS ở cấp độ 8 chữ số, và tương ứng với 1.501 mặt hàng, cụ thể như sau: Một là, nồi hơi dùng trong giao thông vận tải và phương tiện thăm dò khai thác trên biển, có áp suất làm việc định mức của hơi trên 0,7 bar phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, vừa phải kiểm tra chất lượng sau thông quan theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Hai là, tời điện phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, vừa phải kiểm tra chất lượng sau thông quan theo quy định của Bộ Công Thương. Ba là, ra đa phải kiểm tra chất lượng sau thông quan theo quy định của Bộ Công an và Bộ Thông tin và Truyền thông. Bốn là, dây và cáp điện hạ áp phải kiểm tra chất lượng theo quy định của Bộ Công Thương và Bộ Khoa học và Công nghệ. Năm là, bình chữa cháy phải kiểm tra chất lượng theo quy định của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công an. Sáu là, nồi hơi trong các xí nghiệp công nghiệp có áp suất làm việc định mức của hơi trên 0,7 bar phải kiểm tra hiệu suất năng lượng tối thiểu theo quy định của Bộ Công Thương, vừa phải kiểm tra chất lượng sau thông quan theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Công Thương. Bảy là, hệ thống lạnh phải kiểm tra chất lượng trước thông quan theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, vừa phải kiểm tra hiệu suất năng lượng tối thiểu theo quy định của Bộ Công Thương. Tám là, thiết bị gia dụng nhập khẩu (gồm: bình đun nước nóng có dự trữ, nồi cơm điện, quạt điện, bóng đèn huỳnh quang compact, tủ lạnh, tủ kết đông, máy giặt, máy điều hòa không khí,...) phải kiểm tra chất lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phải kiểm tra hiệu suất năng lượng tối thiểu theo quy định của Bộ Công Thương. Chín là, các nhóm sữa chế biến và các sản phẩm khác từ sữa (Bơ, phomat, các sản phẩm khác từ sữa chế biến...), nước giải khát và Bột, tinh bột có nguồn gốc thực vật vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Công Thương, vừa phải kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mười là, các nhóm (thực phẩm dinh dưỡng y học hoặc thực phẩm dinh dưỡng dùng cho mục đích y tế đặc biệt; Phụ gia, hương liệu, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm) vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, vừa phải kiểm dịch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mười một, dược liệu vừa phải có giấy phép nhập khẩu, kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, vừa phải kiểm dịch thực vật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cuối cùng, các nhóm (Ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả...; Thức ăn chăn nuôi, thủy sản; Chế phẩm có chứa sản phẩm động vật; Thực vật, sản phẩm thực vật) vừa phải kiểm dịch, vừa phải kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm của các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
 
Ảnh minh họa. Hoạt động kiểm tra chuyên ngành

Theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019, các bộ đã tiến hành rà soát, đề xuất phương án tập trung đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với 1.501 mặt hàng nêu trên. Bên cạnh một số nhóm sản phẩm, hàng hóa mà các Bộ thống nhất được phương đề xuất giao một Bộ làm đầu mối thực hiện kiểm tra chuyên ngành hoặc đã được cắt giảm, xử lý chồng chéo (như: nước giải khát; phụ gia hỗ trợ chế biến thực phẩm,…), thì còn nhiều mặt hàng các bộ không thống nhất được phương án xử lý, chẳng hạn như:
Về ra đa, Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến, Bộ có trách nhiệm quản lý nhà nước về toàn bộ các thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện (trong đó có thiết bị Ra da) để đảm bảo phù hợp quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia, chất lượng phát xạ vô tuyến và đảm bảo tương thích điện từ đối với toàn bộ các thiết bị phát, thu – phát sóng vô tuyến điện khi hoạt động (trong đó có hệ thống Ra đa của Việt Nam – trên mặt đất hoặc trang bị trên máy bay dân dụng hoặc chỉ dùng cho tàu thuyền đi biển); còn Bộ Giao thông vận tải quản lý thiết bị Ra đa để bảo đảm an toàn sinh mạng con người trên biển – tàu biển, theo các quy định của Công ước Solas-74. Do vậy, để việc quản lý, kiểm tra thiết bị Ra đa được thống nhất, Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất để Bộ tiếp tục quản lý, kiểm tra đối với thiết bị Ra đa theo các quy định hiện hành. Trong khi đó, Bộ Giao thông vận tải cho rằng, Bộ đang thực hiện quản lý chuyên ngành đối với sản phẩm Ra đa được sử dụng lắp đặt trên tàu biển theo quy định của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển (SOLAS 74) với đầy đủ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá (các yêu cầu tính năng kỹ thuật và khả năng làm việc khi được lắp đặt trên tàu biển). Sản phẩm Ra đa cũng được Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý theo Thông tư 04/2018/TT-BTTTT với nội dung quản lý về phổ tần số, bức xạ vô tuyến điện và tương thích điện từ. Theo đó, đề nghị xem xét, đánh giá và giao cho 01 trong 02 Bộ chịu trách nhiệm quản lý trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả, trong đó cần xem xét sản phẩm này là một trong các thiết bị an toàn bắt buộc phải kiểm tra trong các lần kiểm định định kỳ trong quá trình khai thác, vận hành theo quy định của Luật Hàng hải và các hiệp ước quốc tế về hàng hải mà Việt Nam là thành viên để tránh việc nhiều cơ quan khác nhau cùng thực hiện trong mỗi lần kiểm định.
Về thiết bị gia dụng nhập khẩu, Bộ Công Thương có ý kiến, việc kiểm tra hiệu suất năng lượng của sản phẩm này theo quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và Quyết định số 24/2018/QĐ-TTg. Chứng từ của thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với sản phẩm này khi làm thủ tục hải quan theo quy định là việc nộp đăng ký có xác nhận của Tổ chức thử nghiệm hiệu suất năng lượng; việc kiểm tra thực tế được thực hiện sau khi thông quan hàng hóa. Trong khi đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, việc kiểm tra của 02 Bộ căn cứ quy định hiệu suất năng lượng tại Luật Tiết kiệm năng lượng, quản lý an toàn theo quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; đều áp dụng biện pháp hậu kiểm nên không gây phiền hà cho doanh nghiệp. Đối với thiết bị gia dụng phải kiểm tra về hiệu suất năng lượng, Bộ Công Thương căn cứ vào danh sách các tổ chức đánh giá sự phù hợp đã được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động để thực hiện đánh giá chỉ định phục vụ quản lý nhà nước. Với quy định này của Bộ Công Thương, trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện có các Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 1, 2, 3 thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng vừa có năng lực đánh giá sự phù hợp đối với lĩnh vực an toàn điện (thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ) vừa có năng lực đánh giá sự phù hợp về hiệu suất năng lượng (thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương) đối với thiết bị điện và điện tử gia dụng. Do đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị căn cứ thực tế nêu trên để thực hiện giao đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với các sản phẩm, hàng hóa này.
Thực tế thiếu thống nhất trong phương án xử lý của các Bộ như nêu trên nếu không được giải quyết triệt để sẽ tiếp tục tồn tại nhiều mặt hàng cùng chịu sự kiểm tra chuyên ngành của nhiều cơ quan, đơn vị, gây khó khăn, tốn kém thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.
Trong khi đó, chẳng hạn, đối với ra đa là hàng hóa được quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật, hiện nay đang chịu sự kiểm tra của 02 cơ quan là Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải. Tuy nhiên, năm 2018, Bộ Thông tin và truyền thông có thực hiện kiểm tra chuyên ngành nhưng không phát hiện sản phẩm nào vi phạm; còn Bộ Giao thông vận tải ngoài thực hiện khi nhập khẩu còn kiểm tra, kiểm định trước khi lắp đặt và định kỳ. Do đó, để cải cách triệt để hơn, tại giai đoạn nhập khẩu có thể giao cho Hải quan căn cứ trên việc kiểm tra hồ sơ (giấy chứng nhận xuất xứ và chứng chỉ chất lượng của nước xuất khẩu) để kiểm tra, thông quan hàng hóa; tại giai đoạn sử dụng thì vẫn giao Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông kiểm tra chất lượng phân theo mục đích sử dụng như hiện nay.
Hay, hệ thống lạnh đã phân loại kiểm tra chuyên ngành theo công suất, đồng thời mã số HS đã có sự phân định khác nhau nên không còn sự chồng chéo. Tuy nhiên, việc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định mặt hàng này phải kiểm tra chất lượng trước thông quan là không phù hợp vì để đảm bảo an toàn lao động, hệ thống lạnh phải được kiểm định an toàn trước khi đưa vào sử dụng, trong khi thời gian từ nhập khẩu đến trước khi đưa vào sử dụng khá dài nên không nhất thiết phải thực hiện kiểm tra trước thông quan. Đồng thời, hoạt động kiểm tra, chứng nhận hợp quy đã được xã hội hóa do các tổ chức chứng nhận, tổ chứng giám định thực hiện nên ở khâu nhập khẩu có thể giao cho Hải quan làm đầu mối thực hiện.
Một ví dụ khác, về nguyên liệu sản xuất nước giải khát, các loại nguyên liệu này sau khi nhập khẩu sẽ được đưa vào chế biến nên sẽ được kiểm tra trong quá trình chế biến, cũng như kiểm tra an toàn thực phẩm của sản phẩm chế biến trước khi đưa ra thị trường. Trong khi đó, đây là nhóm hàng hóa có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại, là đối tượng thuộc diện kiểm dịch thực vật theo quy định của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Do đó, ở giai đoạn nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ thực hiện kiểm dịch; đồng thời, có thể cắt giảm mặt hàng này khỏi danh mục kiểm tra chuyên ngành của Bộ Công Thương.
Hoặc, bột, tinh bột là nguyên liệu sản xuất nên sau khi nhập khẩu sẽ được đưa vào chế biến. Quá trình chế biến sẽ được kiểm tra; đồng thời, sản phẩm trước khi đưa ra thị trường sẽ được kiểm tra an toàn thực phẩm. Do đó, tại giai đoạn nhập khẩu, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện kiểm tra chuyên ngành; đồng thời, Bộ Công Thương rà soát, cắt giảm các mặt hàng này trong danh mục các mặt hàng phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ là hoàn toàn khả thi, phù hợp.
Vì vậy, ngày 15/10/2019, Văn phòng Chính phủ đã tổ chức cuộc họp với các Bộ: Giao thông vận tải; Thông tin và Truyền thông; Công Thương; Lao động – Thương binh và Xã hội; Y tế; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Khoa học và Công nghệ; Tài chính về phương án xử lý tập trung một đầu mối chủ trì thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với các nhóm sản phẩm, hàng hóa mà các bộ còn chưa thống nhất phương án xử lý, gồm: Hệ thống lạnh; Ra da; Nguyên liệu sản xuất nước giải khát; Sữa, các sản phẩm khác từ sữa; Bột, tinh bột có nguồn gốc thực vật; Chất hỗ trợ chế biến Casein và “Dược liệu”. Trên cơ sở kết quả thống nhất tại cuộc họp và báo cáo đề xuất của Văn phòng Chính phủ, tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2019 (Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 13/11/2019), Chính phủ đã quyết nghị phương án xử lý chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành đối với các mặt hàng trên theo hướng cụ thể như sau:
Đối với ra đa: Miễn kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu đối với ra đa. Giao cơ quan Hải quan căn cứ hồ sơ, giấy tờ nộp cho Hải quan, làm căn cứ kiểm tra, thông quan hàng hóa cho đến khi sửa đổi Nghị định số 74/2018/NĐ-CP .
Đối với hệ thống lạnh: Giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, sửa đổi các văn bản có liên quan theo hướng chuyển kiểm tra chuyên ngành hệ thống lạnh từ trước thông quan sang hậu kiểm sau thông quan; Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, sửa đổi quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 74/2018/NĐ-CP và Khoản 2a, 2b, 2c Điều 7 Nghị định số 132/2008/NĐ-CP theo hướng giao cơ quan Hải quan căn cứ hồ sơ, giấy tờ nộp để kiểm tra, thông quan hàng hóa.
Đối với một số nguyên liệu sản xuất nước giải khát: Giao Bộ Công Thương rà soát, cắt giảm sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm dịch để thống nhất một đầu mối là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra chuyên ngành.
Đối với sữa chế biến và sản phẩm chế biến từ sữa: Giao Bộ Công Thương chủ trì thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với sữa chế biến và sản phẩm chế biến từ sữa theo hướng chỉ định các cơ quan thú y vùng, cơ quan kiểm dịch động vật vùng có đủ điều kiện, năng lực thực hiện việc kiểm tra an toàn thực phẩm đối với mặt hàng này. Cơ quan được chỉ định thực hiện đồng thời việc kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm dịch theo quy định.
Đối với bột, tinh bột có nguồn gốc từ thực vật: Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện kiểm tra chuyên ngành khi nhập khẩu đối với bột, tinh bột. Bộ Công Thương rà soát, cắt giảm các mặt hàng này trong danh mục các mặt hàng phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Đối với chất hỗ trợ chế biến Casein: Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, loại bỏ các sản phẩm, hàng hóa là chất hỗ trợ chế biến Casein ra khỏi danh mục hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Đối với dược liệu: Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế rà soát, tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với các mặt hàng dược liệu phải kiểm dịch.
Như vậy, cùng với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 7957/VPCP-KSTT ngày 05/9/2019 của Văn phòng Chính phủ, Nghị quyết số 99/NQ-CP đã hoàn thành việc quyết định phương án xử lý 1.501 mặt hàng còn có sự chồng chéo, trùng lặp trong kiểm tra chuyên ngành giữa các cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, một số bộ, ngành cũng tiếp tục rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa hoạt động KTCN như: Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2314/QĐ-BCT ngày 31 tháng 7 năm 2019 phê duyệt phương án cắt giảm khoảng gần 450 sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa kiểm tra chuyên ngành và đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành của hơn 100 sản phẩm, hàng hóa,…Đây là một trong những kết quả nổi bật trong rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành năm 2019 của Chính phủ.
 
 
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách toàn diện kiểm tra chuyên ngành thực chất, hiệu quả
Mặc dù, việc cắt giảm, đơn giản hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành thời gian qua đã được các bộ, ngành tích cực thực hiện và đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều quy định, thủ tục kiểm tra chuyên ngành còn rườm rà, phức tạp, chưa đảm bảo thống nhất “một cửa”, một đầu mối như: Đối với việc kiểm tra chất lượng hàng hóa đã thực hiện xã hội hóa (giao tổ chức chứng nhận, tổ chức giám định thực hiện) thì việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành có thể nghiên cứu giao một đầu mối cho cơ quan Hải quan nhằm tránh phát sinh thêm bước thủ tục phải đăng ký, xác nhận của các cơ quan nhà nước mà chủ yếu mang tính chất kiểm tra hồ sơ như hiện nay,… Do đó, tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo thực hiện cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành và kết nối Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, trong đó:
Thứ nhất, Chính phủ giao các bộ, cơ quan ngang bộ:
- Đến hết năm 2020, thực hiện đầy đủ các cải cách về quản lý, kiểm tra chuyên ngành, gồm: (i) Áp dụng quản lý rủi ro dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích về mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và mức độ, quy mô rủi ro của hàng hoá; (ii) chuyển mạnh từ chủ yếu thực hiện kiểm tra tại giai đoạn thông quan hàng hoá sang chủ yếu giám sát tại thị trường nội địa; (iii) công bố công khai danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành với mã số HS ở cấp độ chi tiết, cách thức quản lý chuyên ngành về xuất khẩu, nhập khẩu tương ứng và chi phí mà doanh nghiệp phải trả; hình thức công khai phải đảm bảo phù hợp, dễ tiếp cận; (iv) áp dụng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4.
- Hoàn thành rà soát, cắt giảm thực chất 50% số mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành. Trong quý I năm 2020 công bố công khai, đầy đủ trên Trang thông tin điện tử của bộ quản lý chuyên ngành về danh mục với mã HS tương ứng kèm theo Bảng so sánh danh mục mặt hàng quản lý, kiểm tra chuyên ngành trước và sau khi cắt giảm.
- Trong quý II năm 2020, hoàn thành sắp xếp bộ máy tổ chức ở các bộ liên quan theo hướng đối với mỗi mặt hàng chỉ có một đầu mối duy nhất thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1254/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 - 2020.
- Thực thi đầy đủ trách nhiệm được phân công về kiểm tra chuyên ngành theo quy định tại Nghị định số 85/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định thực hiện thủ tục hành chính theo Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Thứ hai, Chính phủ giao Bộ Tài chính:
- Xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể về xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN theo định hướng xử lý tập trung.
- Cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan theo hướng điện tử hóa, hướng tới hải quan điện tử, phù hợp chuẩn mực quốc tế; chủ trì xây dựng Đề án cải cách kiểm tra chuyên ngành theo hướng cơ quan hải quan là đầu mối thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu (trừ các mặt hàng liên quan đến an ninh, quốc phòng, kiểm dịch,…), bộ quản lý chuyên ngành thực hiện hậu kiểm; trình Chính phủ trong quý I năm 2020.
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp giải quyết ngay các vướng mắc kéo dài trong áp dụng thuế cho nguyên liệu, vật tư dư thừa từ quá trình sản xuất xuất khẩu và gia công xuất khẩu.
- Chủ trì theo dõi tình hình, đánh giá kết quả thực hiện cải cách về quản lý, kiểm tra chuyên ngành; đánh giá mức độ thay đổi và tác động đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20 tháng 12 năm 2020.
Thứ ba, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Thực hiện áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, phân luồng ưu tiên, công nhận lẫn nhau trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản; hướng dẫn và phân biệt giữa kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm; hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về cách thức kiểm tra (nhất là kiểm tra cảm quan), đảm bảo thực hiện nhất quán, tránh phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi Thông tư số 285/2016/TT-BTC về cách tính phí, lệ phí trong công tác thú y nhằm giảm chi phí bất hợp lý cho doanh nghiệp.
Cuối cùng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế việc áp đặt và gia tăng phí của các hãng tàu và phụ phí của cảng./.
NHH, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính