Những điểm mới nổi bật tại Luật Đầu tư (sửa đổi) năm 2020

31/08/2020

Luật Đầu tư (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 6 năm 2020 với tỷ lệ tán thành 92.34%, Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và có nhiều thay đổi quan trọng về quy định, thủ tục hành chính.

Ảnh minh họa

 
Thứ nhất, bãi bỏ 24 ngành nghề, bổ sung 08 ngành nghề và sửa đổi 14 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, bổ sung dịch vụ đòi nợ vào danh mục các nghành nghề cấm đầu tư kinh doanh, như vậy hiện nay có 08 ngành nghề thuộc danh mục cấm đầu tư kinh doanh và 227 ngành nghề thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Thứ hai, mở rộng nhóm đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, từ 05 nhóm thành 07 nhóm, hai nhóm mới được bổ sung là: (1) Dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển; (2) Đầu tư kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa; đầu tư kinh doanh cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa; đầu tư kinh doanh khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ ba, bổ sung quy định rõ về các hình thức lựa chọn nhà đầu tư gồm: Đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đấu thầu; Chấp thuận nhà đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư
Thứ tư, bãi bỏ quy định Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án có quy mô vốn từ 5.000 tỷ đồng, dự án đầu tư sản xuất thuốc lá điếu, dự án xây dựng và kinh doanh sân gôn; bổ sung thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ đối với dự án đầu tư đồng thời thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của từ 02 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên và Dự án đầu tư xây dựng nhà ở (để bán, cho thuê, cho thuê mua), khu đô thị trong các trường hợp: dự án đầu tư có quy mô sử dụng đất từ 50 ha trở lên hoặc có quy mô dưới 50 ha nhưng quy mô dân số từ 15.000 người trở lên tại khu vực đô thị; dự án đầu tư có quy mô sử dụng đất từ 100 ha trở lên hoặc có quy mô dưới 100 ha nhưng quy mô dân số từ 10.000 người trở lên tại khu vực không phải là đô thị; dự án đầu tư không phân biệt quy mô diện tích đất, dân số thuộc phạm vi bảo vệ của di tích được cấp có thẩm quyền công nhận là di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt.
Thứ năm, sửa đổi, bổ sung Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đối với các dự án chấp thuận chủ trương đầu tư thuộc thẩm quyền của Quốc hội và của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định của Luật cũ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ đối với các dự án này là Cơ quan đăng ký đầu tư nơi thực hiện dự án đầu tư (thuộc cấp tỉnh), sau đó cơ quan này gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thẩm định hồ sơ. Do đó, việc sửa đổi quy định nhà đầu tư gửi trực tiếp hồ sơ tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ góp phần giảm bớt một bước trong quy trình thực hiện các thủ tục cho các loại dự án trên.
Thứ sáu, bổ sung quy định cụ thể điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, gồm: Dự án đầu tư không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; Có địa điểm thực hiện dự án đầu tư; Dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch quy định tại điểm a khoản 3 Điều 33 của Luật này; Đáp ứng điều kiện về suất đầu tư trên một diện tích đất, số lượng lao động sử dụng (nếu có); Đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ bảy, bổ sung quy định rõ trường hợp phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, bao gồm các trường hợp sau: (1) Thay đổi mục tiêu đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư; bổ sung mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư; (2) Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng trên 10% hoặc trên 30 ha, thay đổi địa điểm đầu tư; (3) Thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư; (4) Kéo dài tiến độ thực hiện dự án đầu tư mà tổng thời gian đầu tư dự án vượt quá 12 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu; (5) Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư; (6) Thay đổi công nghệ đã được thẩm định, lấy ý kiến trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư; (7) Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).
Thứ tám, bổ sung quy định về gia hạn dự án đầu tư, cụ thể: Khi hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư và đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư nhưng không quá 70 năm đối với dự án trong khu kinh tế; 50 năm đối với dự án ngoài khu kinh tế; 70 năm đối với dự án ngoài khu kinh tế thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn hoặc dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm. Trừ các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thẩm dụng tài nguyên; dự án đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam hoặc bên Việt Nam.
Thứ chín, bãi bỏ thủ tục giãn tiến độ đầu tư, theo quy định tại Luật cũ: Đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư phải đề xuất bằng văn bản cho cơ quan đăng ký đầu tư khi giãn tiến độ thực hiện vốn đầu tư, tiến độ xây dựng và đưa công trình chính vào hoạt động (nếu có); tiến độ thực hiện các mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư. Tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá 24 tháng. Trường hợp bất khả kháng thì thời gian khắc phục hậu quả bất khả kháng không tính vào thời gian giãn tiến độ đầu tư. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề xuất, cơ quan đăng ký đầu tư có ý kiến bằng văn bản về việc giãn tiến độ đầu tư. Nay quy định này đã được bãi bỏ. 
Thứ mười, bổ sung quy định các ngành đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, gồm 05 ngành nghề: Ngân hàng; Bảo hiểm; Chứng khoán; Báo chí, phát thanh, truyền hình; Kinh doanh bất động sản.
Mười một, sửa đổi quy định đối với trường hợp chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thành: 24 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án đầu tư theo tiến độ đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước và không thực hiện thủ tục điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư (thay vì 12 tháng như hiện hành).
Mười hai, bỏ quy định Bộ Kế hoạch và Đầu chấp thuận bằng văn bản đối với trường hợp nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về nước. Cụ thể, theo quy định tại Luật cũ: Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam. Trong thời hạn này mà chưa chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về Việt Nam, nhà đầu tư phải có văn bản báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được gia hạn không quá hai lần, mỗi lần không quá 06 tháng và phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận bằng văn bản.
Theo quy định tại Luật mới, nhà đầu tư chỉ phải thông báo trước bằng văn bản về việc chưa chuyển lợi nhuận về nước cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà không phải có chấp thuận bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được kéo dài không quá 12 tháng kể từ ngày hết thời hạn 06 tháng nêu trên.
Mười ba, bỏ chế độ báo cáo tháng về tình hình thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam đối với nhà đầu tư, tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư. Thay vào đó, các đối tượng này chỉ phải thực hiện báo cáo quý và báo cáo năm với cơ quan đăng ký đầu tư. Đồng thời, về phía cơ quan đăng ký đầu tư cũng không phải thực hiện báo cáo tháng về tình hình tiếp nhận, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư,...với Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Ngoài ra, bãi bỏ chế độ báo cáo 06 tháng đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài và bỏ đối tượng báo cáo là UBND cấp tỉnh. Chỉ có các Bộ, cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp mới phải thực hiện báo cáo này với Bộ Kế hoạch và Đầu tư./.
Tâm Vũ
Cục Kiểm soát TTHC