Hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định kiểm tra nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu

13/05/2021

Dự thảo Nghị định được xây dựng với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.

 

Ảnh: LHQ

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã xây dựng và đang triển khai lấy ý kiến rộng rãi các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với dự thảo Nghị định quy định kiểm tra nhà nước về chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu.
Để đáp ứng yêu cầu thể chế hóa các phương án cải cách quy định, thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm theo Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 12/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cải cách mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, dự thảo Nghị định cần bám sát các định hướng đổi mới, phương án cải cách tại Quyết định này như: Cơ chế áp dụng một cơ quan đầu mối, quản lý rủi ro; ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ dữ liệu,… trong thực hiện các thủ tục hành chính (TTHC) về kiểm tra chuyên ngành, hải quan.
Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát các quy định tại dự thảo, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với quy định pháp luật hiện hành về chất lượng, an toàn thực phẩm, nhất là khi chưa sửa đổi các Luật có liên quan, cụ thể như sau:
Thứ nhất, một số quy định về trình tự giải quyết, thành phần hồ sơ TTHC tại Dự thảo Nghị định như: Kiểm tra nhà nước về chất lượng, về an toàn thực phẩm, đăng ký bản công hợp quy, tự công bố sản phẩm,… có kết cấu chưa hợp lý, chưa rõ về trình tự, cách thức, đối tượng thực hiện trong một số trường hợp cụ thể, do đó cần tiếp tục hoàn thiện các quy định, TTHC tại dự thảo Nghị định bảo đảm nguyên tắc một đầu mối, rõ ràng quy trình đối với từng trường hợp, để tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong thực hiện, giải quyết TTHC. Ví dụ như: Khoản 2 Điều 10 chưa rõ về thời gian cấp thông báo tiếp nhận bản công bố hợp quy, về trình tự cấp dấu hợp quy, về việc lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp; Điều 16 quy định việc kiểm tra theo phương thức chặt chỉ với trường hợp tại điểm a Khoản 1 Điều 15, chưa rõ thành phần hồ sơ phải nộp với trường hợp điểm b Khoản 1 Điều 15 và chưa rõ về trình tự kiểm tra chặt với trường hợp nêu tại điểm c Khoản 1 Điều 15 hoặc trường hợp hàng hóa giống hệt chưa đăng ký công bố hợp quy nêu tại điểm b Khoản 2 Điều 15; quy định tại Chương V chưa rõ cá nhân, tổ chức sẽ thực hiện với một đầu mối, một bộ hồ sơ hay với 02 quy trình khác nhau; trường hợp Cổng thông tin một cửa quốc gia xảy ra sự cố nêu tại Chương II thì cơ quan nào tiếp nhận và giải quyết theo trình tự, cách thức như thế nào;...
Thứ hai, Dự thảo quy định về áp dụng quy trình kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm theo mặt hàng. Theo đó, các mặt hàng giống hệt (Khoản 1 Điều 3) nếu đáp ứng một số tiêu chí như có 03 lần nhập khẩu liên tiếp đạt yêu cầu theo phương thức kiểm tra chặt hoặc thông thường thì áp dụng phương thức kiểm tra thông thường hoặc kiểm tra giảm. Tuy nhiên, các quy định này chưa rõ về trách nhiệm đối với các doanh nghiệp liên quan. Ví dụ như: Trường hợp mặt hàng không đáp ứng quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm mà nguyên nhân do nhà nhập khẩu thì các nhà nhập khẩu khác đang tuân thủ tốt có tiếp tục được áp dụng kiểm tra theo phương thức thông thường như đã được được áp dụng trước đó không? Vì vậy, quy định về các tiêu chí của mặt hàng giống hệt tại Dự thảo cần được rà soát để bảo đảm tính khả thi, áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đối với mặt hàng nhập khẩu trong một số trường hợp cụ thể. 
Thứ ba, một số quy định về TTHC tại Dự thảo chưa bảo đảm tính thống nhất, ví dụ: Tại điểm b Khoản 1 Điều 36 quy định doanh nghiệp được quyền lựa chọn tổ chức chức chứng nhận sự phù hợp, tuy nhiên ngoại trừ trường hợp thủ tục thực hiện theo quy trình kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm (kiểm tra bằng hồ sơ) thì trường hợp kiểm tra chặt, cơ quan kiểm tra là đơn vị lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp (Điều 16) và doanh nghiệp chỉ được lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với trường hợp thực hiện thủ tục chứng nhận hợp quy nêu tại Điều 14. Một số quy định, điều kiện, từ ngữ chưa rõ ràng, hợp lý tại Dự thảo cần được rà soát, chỉnh sửa, ví dụ như: Doanh nghiệp “tuân thủ pháp luật” là doanh nghiệp phải đáp ứng tiêu chí có hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong thời gian 365 ngày liên tiếp tại Khoản 3 Điều 6; việc tái giám định, thử nghiệm trong trường hợp “nghi ngờ” kết quả kiểm tra đánh giá sự phù hợp tại Khoản 2 Điều 37; giao thẩm quyền ban hành một số quy định cho các bộ, cơ quan tại Khoản 7 Điều 19, điểm g Khoản 2 Điều 41; về Cổng thông tin một cửa quốc gia của Tổ chức đánh giá sự phù hợp, Cổng thông tin một cửa quốc gia xử lý dữ liệu điện tử tại điểm g, h Khoản 2 Điều 41…
 
Tổng cục Hải quan lấy ý kiến thành viên tổ biên tập về dự thảo Nghị định. Ảnh: LHQ
 
Thứ tư, dự thảo Nghị định cần làm rõ một số nội dung như phạm vi áp dụng, các trường hợp miễn kiểm tra,…; bổ sung một số nguyên tắc kết nối, tích hợp, đồng bộ, chia sẻ trong xử lý hồ sơ, TTHC với Cổng Dịch vụ công quốc gia để tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong thực hiện dịch vụ công, thanh toán trực tuyến các khoản phí, lệ phí.

Lê Hồng Quang,
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính