Cần tiếp tục nghiên cứu cải cách các quy định về kiểm tra chuyên ngành trong nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật

04/10/2021

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, thú y cần phân định rõ phạm vi, cơ chế, chỉ tiêu kiểm tra chuyên ngành đối với động vật, sản phẩm động vật trên cạn, thủy sản nhập khẩu để tránh gây khó khăn cho cá nhân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính.

Chồng chéo giữa quy định tại văn bản quy phạm pháp luật
Luật Thú y quy định đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật bao gồm vi sinh vật, ký sinh trùng, trứng và ấu trùng của ký sinh trùng gây bệnh cho động vật, gây hại cho sức khỏe con người (khoản 18 Điều 3 Luật Thú y). Các chỉ tiêu kiểm tra gồm có:
 Đối với động vật, lấy mẫu xét nghiệm các bệnh đối với động vật nhập khẩu (chủ yếu áp dụng đối với động vật làm giống, quy định tại Thông tư 25/2016/TT-BNNPTNT). Ngoài ra, có 05 bệnh xét nghiệm đối với động vật giết mổ là: lở mồm long móng (trâu, bò, dê, cừu, lợn), xoắn khuẩn (trâu, bò, dê, cừu, lợn), xẩy thai truyền nhiễm (trâu, bò, dê, cừu, lợn), lao (trâu, bò), cúm gia cầm thể động lực cao (gia cầm). Năm nhóm này đều là bệnh của đàn nuôi có nguy cơ lây lan cho người.
Đối với sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm xét nghiệm vi sinh vật gây hại, cảm quan, lý hóa gồm Sallmonella spp, E.coli, Enterobacteriaceae, quản quan, lý hóa (Nhóm nguy cơ cao); Cl.Botulinum, Salmonellaspp, E.coli, cảm quan, lý hóa (nhóm nguy cơ thấp). Đối với sản phẩm động vật trên can nhập khẩu làm nguyên liệu gia công, chế biến hàng xuất khẩu, Thông tư 35/2018/TT-BNNPTNT bổ sung thêm nội dung lấy mẫu xét nghiệm các tác nhân gây bệnh như bệnh cúm gia cẩm thể độc lực cao (đối với thịt gà, vịt…), soắn khuẩn, giun soắn, dịch tả lợn Châu phi (đối với vùng lãnh thổ có dịch); xoắn khuẩn (trâu bò).
 Đối với động vật thủy sản làm giống xét nghiệm các chỉ tiêu bệnh lây lan cho đàn nuôi; Đối với sản phẩm động vật thủy sản lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu về vi sinh vật gây hại; Các chi tiêu cảm quan, lý hóa theo quy định. Trong đó, chỉ tiêu vi sinh vật gây hại gồm: V. Parahaemolyticus, Salmonella, E. Coli, V. Cholerae  (chỉ lấy mẫu xét nghiệm bệnh nếu phát hiện động vật có dấu hiệu mắc bệnh theo quy định tại thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT).
Đối với sản phẩm động vật thủy sản làm nguyên liệu gia công, chế biến thực phẩm xuất khẩu; sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu trược tiếp từ tàu đánh bắt hải sản nước ngoài nhập khẩu gián tiếp từ tàu đánh bắt hải sản nước ngoài chuyển tải tại các cảng trung chuyển của quốc gia khác để làm nguyên liệu gia công, chế biến thực phẩm xuất khẩu thì kiểm tra điều kiện bảo quản, quy cách bao gói, ghi nhãn, ngoại quan của sản phẩm (chỉ lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh thú y khi nghi ngờ hoặc phát hiện hàng hóa không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y).
Từ các quy định trên cho thấy, chỉ tiêu xét nghiệm kiểm dịch bao gồm 2 mục đích: Thứ nhất, đảm bảo an toàn bệnh cho chính đàn nuôi (áp dụng đối với động vật trên cạn, động vật thủy sản). Thứ hai, đảm bảo giới hạn an toàn đối với thực phẩm dùng cho người. Biểu hiện ở việc, các sản phẩm động vật cả trên cạn và thủy sản kiểm tra các chỉ tiêu vi sinh vật giống với quy định giới hạn an toàn thực phẩm mà Bộ Y tế ban hành (các chỉ tiêu vi sinh vật Ecoli, Samonella,…); Riêng, đối với động vật trên cạn giết mổ làm thực phẩm thì kiểm tra chỉ tiêu bệnh đối với 05 bệnh trong đàn nuôi có thể gây bệnh cho con người như bệnh lở mồm long móng (trâu, bò, dê, cừu, lợn), xoắn khuẩn (trâu, bò, dê, cừu, lợn), xẩy thai truyền nhiễm (trâu, bò, dê, cừu, lợn), lao (trâu, bò), cúm gia cầm thể động lực cao (gia cầm).
Theo quy định của  Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 15/2018/NĐ-CP (Khoản 3, Điều 37), Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành giới hạn an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cho con người (bao gồm các chỉ tiêu như giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người theo quy định tại Điều 10 Luật An toàn thực phẩm). Bộ Y tế đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật đảm bảo an toàn thực phẩm như: QCVN 8-1:2011/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm trong thực phẩm; QCVN 8-2:2011/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm kim loại  nặng trong thực phẩm; QCVN 8-3:2012/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm; quy định giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm (Thông tư 50/2016/TT-BYT); Ban hành quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc thú y trong thực phẩm (Thông tư 24/2013/TT-BYT; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm hóa học trong thực phẩm (thông tư 02/2011/TT-BYT),… Do đó, cơ chế thực hiện kiểm tra các chỉ tiêu về vi sinh vật trong thực phẩm cần thực hiện theo cơ chế của Luật an toàn thực phẩm là miễn, giảm, thông thường, chặt, thay vi kiểm tra chặt như kiểm dịch.
Ngoài ra, cùng là chỉ tiêu giới hạn an toàn sản phẩm thủy sản, nếu là thủy sản xuất khẩu thì các chỉ tiêu E.coli, salmonella,… được gọi tên là kiểm tra chứng nhận an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu. Nhưng cũng những chỉ tiêu này khi nhập khẩu về Việt Nam lại được gọi dưới tên kiểm dịch. Thông tư 48/2013/TT-BNNPTNT quy định về kiểm tra và chứng nhận ATTP thuỷ sản xuất khẩu quy định kiểm tra E.coli, salmonella,… trong nước đá, găng tay; Quyết định số 2864/QĐ-BNN-QLCL ngày 24/11/2011 (đối với các chỉ tiêu cảm quan, ngoại quan và vi sinh, kiểm tra chỉ tiêu Ecoli, salmonella sản phẩm thủy sản theo yêu cầu của nước nhập khẩu); Quyết định số 1471/QĐ-BNN-QLCL ngày 20/6/2012 (đối với các chỉ tiêu hóa học) và cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm (Health Certificate) - không phải là chứng nhận kiểm dịch (Veterinary Certificate) cho các lô hàng thủy sản xuất khẩu sang EU.
 Bên cạnh đó, các chỉ tiêu này không phải là các chỉ tiêu nằm trong các dịch bệnh phải kiểm soát theo Bộ luật Thú y thủy sản của OIE. Trong thực phẩm dùng cho người E. ColiSalmonella là những chỉ tiêu thể hiện giới hạn an toàn thực phẩm để phòng tránh bệnh tả, lị, thương hàn cho người. Việc kiểm soát vi khuẩn này trong thức ăn cho người thể hiện ở nhiều hình thức tại nhiều hệ thống văn bản, tiêu chuẩn kỹ thuật như kiểm soát E.coli trong cả quá trình sản xuất có tác động của con người như Ecoli trong nước uống, nước chế biến, trong dụng cụ sản xuất thực phẩm, trong tay, găng tay công nhân, trong nước đá, trong rau quả thực vật,….  (không phải chỉ kiểm soát trong chăn nuôi thú y). Do đó, tiêu chí này không phải là tiêu chí đặc thù riêng có trong thú y với tính chất là vi khuẩn bệnh động vật lây lan truyền nhiễm từ động vật sang cho con người. Bản chất là tiêu chí thể hiện giới hạn an toàn cho sản phẩm hàng hóa hoặc giới hạn an toàn cho thực phẩm dùng cho người.
Đồng thời, trước Thông tư 35/2018/TT-BNNPTNT đã coi chỉ tiêu này là chỉ tiêu của an toàn thực phẩm. Cục Thú y chỉ là đầu mối để thống nhất 2 thủ tục kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm. Mẫu 15c tại Thông tư 25/2016/TT-BNNPTNT là mẫu giấy chứng nhận kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm nhập khẩu dùng làm thực phẩm.
Như vậy, cả Luật Kiểm dịch và Luật An toàn thực phẩm đều quy định chỉ tiêu, giới hạn vi sinh vật gây hại trong thực phẩm dùng cho người. Theo đó, giới hạn vi sinh vật này nếu ở Luật An toàn thực phẩm thì gọi là chỉ tiêu, giới hạn về an toàn thực phẩm, còn ở Luật Thú y thì gọi là giới hạn an toàn kiểm dịch thú y.
Cùng chỉ tiêu kiểm tra nhưng thủ tục lại khác nhau
 Việc chồng chéo chỉ tiêu về vi sinh vật này trong hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, thú y sẽ không có vấn đề cản trở nếu cơ chế kiểm tra cho chỉ tiêu này đối với sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản là giống nhau. Tuy nhiên, hiện tại cơ chế kiểm tra đối với sản phẩm động vật trên cạn, động vật thủy sản mặc dù chỉ tiêu kiểm tra, lấy mẫu giống nhau nhưng nếu áp dụng theo Luật An toàn thực phẩm thì những sản phẩm động vật, sản phẩm thủy sản sẽ thực hiện theo phương thức miễn kiểm tra, kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm, kiểm tra chặt (chỉ lấy mẫu kiểm tra đối với trường hợp kiểm tra chặt; các trường hợp khác chỉ kiểm tra hồ sơ do Cơ quan hải quan thực hiện hoặc cơ quan kiểm tra chuyên ngành). Còn nếu áp dụng theo Luật Thú y thì sản phẩm động vật trên cạn, sản phẩm động vật thủy sản phải thực hiện kiểm tra chặt có nghĩa là bắt buộc phải lấy mẫu tất cả các lô hàng (không có trường hợp được miễn, giảm, kiểm tra thông thường). Đồng thời, cá nhân, tổ chức cũng không có quyền lựa chọn thực hiện theo cơ chế của Luật An toàn thực phẩm mà tất cả các lô hàng sản phẩm động vật trên cạn, thủy sản nhập khẩu phải thực hiện cơ chế kiểm tra chặt theo Luật Thú y do các chỉ tiêu này vừa là chỉ tiêu an toàn thực phẩm vừa là chỉ tiêu giới hạn về thú y, kiểm dịch phải thực hiện theo cơ chế của Luật Thú y.
So sánh các hình thức kiểm tra ATTP và “kiểm dịch” cho hàng nhập khẩu
Stt Hạng mục Kiểm tra ATTP nhập khẩu
(theo NĐ 15/2018/NĐ-CP)
“Kiểm dịch” nhập khẩu
(theo TT 26/2016, 36/2018, 11/2019)
Kiểm tra giảm KT thông thường Kiểm tra chặt  
I Nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu và GCXK  
 
Miễn kiểm tra
  • Kiểm tra hồ sơ (100% lô hàng)
  • Kiểm tra bao gói, ghi nhãn, ngoại quan (100% lô hàng)
  • Lấy mẫu để kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh thú y (trường hợp nếu có nghi ngờ hoặc phát hiện hàng hóa không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y)
II NK để tiêu dùng nội địa        
1 Tần suất kiểm tra 5 % số lô hàng/năm 100% số lô
 
 
100% số lô không hưởng chế độ kiểm tra giảm hay thông thường
  • 100% lô hàng: kiểm tra hồ sơ, ngoại quan (bao gói, ghi nhãn)
  • Tần suất lấy mẫu để kiểm tra, xét nghiệm (tính trong vòng 1 năm từ 1/1 đến 31/12 hàng năm): theo Ghi chú (1)
Ghi chú (1): Tần suất lấy mẫu để kiểm tra, xét nghiệm (tính từ 1/1 đến 31/12):
a) Đối với sản phẩm động vật thủy sản có nguy cơ cao (sản phẩm ở dạng sơ chế, tươi sống, đông lạnh, ướp lạnh): lấy mẫu của 03 (ba) lô hàng liên tiếp để kiểm tra, xét nghiệm và xử lý kết quả kiểm tra, xét nghiệm như sau:
1) Nếu kết quả kiểm tra, xét nghiệm của 03 (ba) lô hàng liên tiếp đạt yêu cầu thì cứ 05 (năm) lô hàng tiếp theo chỉ lấy mẫu của 01 (một) lô hàng ngẫu nhiên để kiểm tra, xét nghiệm; nếu phát hiện 01 (một) lần vi phạm thì lấy mẫu của 03 (ba) lô hàng liên tiếp để kiểm tra, xét nghiệm;;
a2) Nếu kết quả kiểm tra, xét nghiệm của từ 01 - 02 lô hàng không đạt yêu cầu thì tiếp tục duy trì lấy mẫu của 03 (ba) lô hàng liên tiếp để kiểm tra, xét nghiệm;
a3) Nếu kết quả kiểm tra, xét nghiệm của 03 (ba) lô hàng liên tiếp không đạt yêu cầu thì đề xuất tạm ngừng nhập khẩu loại sản phẩm động vật thủy sản vi phạm;
b) Đối với sản phẩm động vật thủy sản có nguy cơ thấp (đã qua chế biến):
Cứ 05 (năm) lô hàng lấy mẫu của 01 (một) lô hàng ngẫu nhiên để kiểm tra, xét nghiệm; nếu phát hiện 01 (một) lần vi phạm thì lấy mẫu của 03 (ba) lô hàng liên tiếp để kiểm tra, xét nghiệm và xử lý kết quả kiểm tra, xét nghiệm như quy định tại mục a1, a2 và a3 điểm này;
c) Các lô hàng phải lấy mẫu kiểm tra: nếu lô hàng có 01 (một) mặt hàng thì lấy 03 mẫu; nếu lô hàng có từ 02 mặt hàng trở lên thì lấy 05 mẫu;
 
2 Nội dung kiểm tra Chỉ kiểm hồ sơ Chỉ kiểm hồ sơ Kiểm tra hồ sơ + lấy mẫu kiểm nghiệm
  • Kiểm tra hồ sơ
  • Kiểm tra bao gói, ghi nhãn, ngoại quan
  • Lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu
3 Các chỉ tiêu kiểm tra     Các chỉ tiêu ATTP theo yêu cầu
  1. Chỉ tiêu vi sinh:
  • Cá và thủy sản tươi, đông lạnh (phải xử lý nhiệt trước khi sử dụng): Salmonella, E. Coli, V. Cholerae, V. Parahaemolyticus;
  • Sản phẩm chế biến từ cá và thủy sản (dùng trực tiếp, không qua xử lý nhiệt trước khi sử dụng): E.coli, Cl.perfringens, Salmonella, V. Parahaemolyticus.
  • Thủy sản khô sơ chế (phải xử lý nhiệt trước khi sử dụng): E.coli, S.aureus, Salmonella, V. Parahaemolyticus.
  • Giáp xác và động vật thân mềm có vỏ hoặc đã bỏ vỏ gia nhiệt: E. Coli, S. aureus, Salmonella.
  1. Chỉ tiêu lý, hóa: theo quy định
              
Một số giải pháp
Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc nêu trên, đối với thực phẩm là thức ăn cho người cần khuôn lại danh mục phải kiểm dịch đồng bộ với Luật An toàn thực phẩm, nghị định 15/2018/NĐ-CP. Phân định rõ những sản phẩm hàng hóa chỉ kiểm tra an toàn thực phẩm và những sản phẩm hàng hóa vừa kiểm tra an toàn thực phẩm vừa kiểm dịch. Những sản phẩm hàng hóa có chỉ tiêu lấy mẫu xét nghiệm kiểm dịch đồng nhất với chỉ tiêu kiểm tra an toàn thực phẩm thì thực hiện cơ chế kiểm tra an toàn thực phẩm theo Luật An toàn thực phẩm.
Nghiên cứu thực hiện áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, phân luồng ưu tiên, lịch sử tuân thủ của cơ sở, công nhận lẫn nhau trong quản lý, kiểm dịch đối với hoạt động xuất, nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật; hướng dẫn và phân biệt giữa kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm; hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về cách thức kiểm tra (nhất là kiểm tra cảm quan, lấy mẫu xét nghiệm khi có nghi ngờ); quy định phương thức phù hợp giữa kiểm dịch nhập khẩu để tiêu thụ trong nước và nhập khẩu để chế biến xuất khẩu, đảm bảo thực hiện nhất quán với Luật An toàn thực phẩm, tránh phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.