Thấy gì qua Báo cáo đánh giá mức độ phát triển Chính phủ điện tử năm 2018 của Liên hợp quốc

01/08/2018

Ngày 19 tháng 7 năm 2018, Liên hợp quốc đã công bố Báo cáo đánh giá mức độ phát triển Chính phủ điện tử năm 2018[1]. Qua nghiên cứu và phân tích số liệu sơ bộ, bài viết đưa ra nhận xét và đánh giá về một số nội dung trong Báo cáo của Liên hợp quốc.
 

Về phương pháp xác định chỉ số phát triển Chính phủ điện tử
So với năm 2016, phương pháp xác định chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc (E-Government Development Index - EGDI) năm 2018 cơ bản không thay đổi. Chỉ số EGDI là trung bình cộng của ba chỉ số thành phần thuộc các lĩnh vực quan trọng nhất của Chính phủ điện tử, gồm cung cấp dịch vụ công trực tuyến (Online Service Index - OSI), phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông (Telecommunication Infrastructure Index - TII) và nguồn nhân lực (Human Capital Index - HCI). Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử có giá trị tương đối, phản ánh tương quan giữa từng nước được xếp hạng với nước được xếp hạng cao nhất và thấp nhất (cao nhất được đánh giá 1 điểm, thấp nhất là 0 điểm).

Báo cáo phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc công bố định kỳ 2 năm một lần vào khoảng giữa các năm chẵn, còn việc thu thập, xác thực số liệu cho chỉ số Dịch vụ công trực tuyến được nhóm nghiên cứu tiến hành bằng cách đánh giá trực tiếp từ giữa năm trước đó, nên thường số liệu có độ trễ khoảng 1 năm. Riêng số liệu về chỉ số hạ tầng viễn thông và chỉ số nguồn nhân lực được lấy từ nguồn tương ứng của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP).
Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử:  
Trong đó, các yếu tố thành phần trong ba chỉ số trên như sau:
- Thành phần Chỉ số Dịch vụ công trực tuyến (OSI): Đánh giá dựa trên 05 tiêu chí (tính hiệu lực; tính tin cậy; tính mở; tính bao trùm; trách nhiệm giải trình) trực tiếp từ Cổng thông tin quốc gia, các Cổng thông tin cung cấp dịch vụ điện tử cũng như website của các Bộ quản lý lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội, phát triển kinh tế, lao động và việc làm, bảo vệ môi trường, an ninh - trật tự.

- Thành phần Chỉ số về Hạ tầng viễn thông (TII) gồm: (1) Số người dùng Internet trên 100 người; (2) Số thuê bao băng rộng cố định trên 100 người; (3) Số thuê bao băng rộng di động (3G/4G) trên 100 người; (4) Số thuê bao điện thoại cố định trên 100 người; (5) Số thuê bao điện thoại di động trên 100 người.

- Thành phần Chỉ số về Nhân lực (HCI) gồm: (1) Tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết; (2) Tỷ lệ đăng ký nhập học chung; (3) Số năm học kỳ vọng; (4) Số năm học trung bình.

Trước đó, tháng 12/2017, Báo cáo sơ bộ về khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc[2] (chưa phải báo cáo chính thức) đã đưa ra một khung phương pháp luận mới để đánh giá mức độ phát triển Chính phủ điện tử của các quốc gia, trong đó nhấn mạnh các ưu tiên về Chương trình chuyển đổi số (Digital Agenda) và các nguyên tắc về Chính phủ số (Digital Government Principles). Khung phương pháp luận mới gắn liền với các mục tiêu trong Chương trình 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững.
Hình 1: Khung phương pháp luận mới để đánh giá mức độ phát triển Chính phủ điện tử của LHQ
 
Đồng thời, báo cáo này cũng đưa ra khái niệm khung Chính phủ số (Digital Government Framework), bao quát các vấn đề và lĩnh vực khác nhau liên quan đến việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp. Quá trình đánh giá chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI) của mỗi quốc gia sẽ dựa vào kết quả tổng hợp từ 3 bảng đánh giá riêng là: (1) bảng hỏi dành cho nước thành viên Liên hợp quốc trả lời; (2) bảng hỏi về dịch vụ công trực tuyến và (3) đánh giá độc lập của bên thứ ba (các chuyên gia). Cả 3 đánh giá này đều có chung các chủ đề về Dữ liệu mở, Tham gia điện tử, Chính phủ di động, Mức độ tích hợp, Khoảng cách số, Cách thức sử dụng (khó/dễ), Người dùng là trung tâm hay không, vai trò của chính quyền địa phương, Tính riêng tư, Tính an toàn, bảo mật. Riêng đánh giá độc lập của các chuyên gia sẽ chấm điểm các yếu tố sau: Lấy người dùng/tính di động làm trọng tâm, Khả năng truy cập, Tính riêng tư và an toàn bảo mật, Mức độ dễ tìm (trong công cụ tìm kiếm), Các xu hướng Web thể hiện thói quen sử dụng (Google, Baidu…), Mạng xã hội (phân tích phản hồi của người dùng).

Một điểm đáng chú ý là báo cáo sơ bộ này cũng đề cập các khuyến nghị của nhóm chuyên gia để cập nhật phương pháp đánh giá mới cho giai đoạn tiếp theo (sau 2018), cụ thể là:

- Gắn kết khảo sát Chính phủ điện tử với các mục tiêu phát triển bền vững thông qua nghiên cứu, phân tích các mục tiêu của Chương trình 2030 về phát triển bền vững của Liên hợp quốc, cụ thể là một số mục tiêu sẽ được xem xét tại Diễn đàn chính trị cấp cao (HLPF) năm 2018 và 2019.

- Cập nhật phương pháp luận và cách thức khảo sát thông qua mở rộng phương pháp đánh giá Chính phủ điện tử từ cấp trung ương tới chính quyền địa phương (đánh giá thử nghiệm từ sau năm 2018).

- Tập trung vào các xu hướng chính: (1) trí tuệ nhân tạo, (2) vạn vật kết nối (IoT), (3) kiến trúc điện toán đám mây ảo và mở, (4) dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu, (5) các nền tảng thông minh, (6) các công nghệ di động và mạng xã hội.

Về tình hình chung thế giới và khu vực
Trong 3 kỳ báo cáo từ năm 2014-2018, chỉ số phát triển Chính phủ điện tử trung bình của thế giới tăng đáng kể từ 0,47 (2014) lên 0,49 (2016) và năm 2018 là 0,55, trong đó chỉ số Dịch vụ công trực tuyến tăng đều, mạnh lần lượt từ 0,37 lên 0,46 rồi 0,57, chỉ số Hạ tầng viễn thông tăng nhẹ từ 0,37 lên 0,42, còn chỉ số nhân lực gần như không thay đổi. Trong 40 nước được xếp hạng chỉ số Chính phủ điện tử rất cao (EGDI ≥0,75) có đến 38 nước là thu nhập cao, chỉ có 2 nước có thu nhập trung bình cao là Belarus và Kazakhstan.

Năm quốc gia được xếp hàng đầu về Chính phủ điện tử theo đánh giá của Liên hợp quốc lần lượt là Đan Mạch, Úc, Hàn Quốc, Anh, Thụy Điển, trong đó Đan Mạch được xếp thứ nhất thế giới về Dịch vụ công trực tuyến, Úc đứng đầu thế giới về chỉ số nguồn nhân lực. Một điểm chung của các quốc gia này là đều có chương trình, chiến lược, lộ trình phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, cụ thể như sau:

- Đan Mạch đã xây dựng chiến lược số giai đoạn 2016-2020 và tổ chức triển khai mạnh mẽ, thể hiện nỗ lực số hóa khu vực công của Chính phủ cũng như việc tương tác giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệp, xây dựng nền tảng cho một Chính phủ số mạnh và an toàn.

- Chính phủ Úc đã công bố lộ trình chuyển đổi số quốc gia và đặt ra các mục tiêu cho chương trình chuyển đổi quốc gia (tháng 11 năm 2016), kết quả thực hiện lộ trình này được cập nhật thường xuyên, liên tục.

- Chính phủ Hàn Quốc đã nỗ lực thúc đẩy một Chính phủ minh bạch, hiệu quả, thuận tiện nhằm cải thiện sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp cũng như hiệu suất của Chính phủ và thường xuyên nâng cao năng lực cải tiến dịch vụ trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh chóng và một điểm đáng lưu ý là ngày càng có nhiều nước đang phát triển đề nghị Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm, bí quyết trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, chiến lược Chính phủ số. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, đã có 4.820 quan chức, cán bộ, công chức ở các nước khác được đào tạo ở Hàn Quốc trong 10 năm qua về chủ đề này.

- Năm 2017, Chính phủ Anh công bố chiến lược chuyển đổi Chính phủ và thiết lập lộ trình cho các hoạt động xây dựng Chính phủ điện tử thông qua việc chuyển đổi mô hình kinh doanh, xây dựng văn hóa, kỹ năng, nguồn nhân lực thích hợp, phát triển các công cụ, quy trình, cơ chế quản trị tốt hơn cho lực lượng công chức, tận dụng tối đa dữ liệu, tạo các nền tảng chia sẻ.

- Chính phủ Thụy Điển đã công bố một chiến lược trọng tâm về chính sách số của Chính phủ vào năm 2017 cũng như vai trò của chính sách này đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, việc làm, phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững. 90% người dân Thụy Điển được phổ cập Internet và 3/4 trong số đó có các kỹ năng số cơ bản.

Đặc biệt, báo cáo của Liên hợp quốc đã nhấn mạnh giải pháp X-Road của Estonia là nền tảng trao đổi dữ liệu xuyên biên giới đầu tiên trên thế giới (giữa Chính phủ 2 nước Estonia và Phần Lan). X-Road là một ứng dụng trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước và tất cả các dịch vụ của Chính phủ Estonia đều có thể truy cập từ một điểm duy nhất. Ngoài việc hỗ trợ cơ chế truy vấn trên nhiều cơ sở dữ liệu và trao đổi an toàn các văn bản, tài liệu điện tử, X-Road còn tích hợp thông suốt với các cổng thông tin và ứng dụng khác của Chính phủ. Khu vực tư nhân cũng có thể kết nối với X-Road để truy cập, truy vấn và hưởng lợi từ quá trình trao đổi dữ liệu an toàn. 99% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến nhờ X-Road với trung bình là 500 triệu lượt truy vấn X-Road/năm. Giải pháp này đã được nhân rộng thành công ở các nước khác như Phần Lan, Azerbaijan, Namibia.

Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore là quốc gia đứng đầu về chỉ số Chính phủ điện tử, và đứng thứ hai châu Á sau Hàn Quốc. Singapore đã công bố mục tiêu trở thành một quốc gia thông minh (Smart Nation), trong đó, Chính phủ số là một phần không thể tách rời. Trong chiến lược phát triển quốc gia, Singapore đã coi Chính phủ điện tử là một phương pháp tiếp cận tổng thể. Mức độ phát triển hạ tầng di động và tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh rất cao đã giúp Chính phủ Singapore cung cấp các ứng dụng trên thiết bị di động cho người dân, doanh nghiệp nhanh hơn, dễ hơn và thuận tiện hơn.

Về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam
Theo Báo cáo phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2018, thứ hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam tăng 1 bậc so với năm 2016 nhưng vẫn đứng ở vị trí trung bình của thế giới (88/193 quốc gia), của châu Á (24/47 quốc gia) và của Đông Nam Á (6/11 quốc gia), sau Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan, Philippines. Bảng so sánh chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam với chỉ số trung bình của thế giới, khu vực năm 2018 như sau:
 
Khu vực/
Quốc gia
Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử
(EGDI)
Chỉ số Dịch vụ công trực tuyến
(OSI)
Chỉ số về
Hạ tầng viễn thông (TII)
Chỉ số về
Nhân lực
(HCI)
Việt Nam 0,5931 0,7361 0,3890 0,6543
Đông Nam Á 0,5555 0,5802 0,4237 0,6627
Châu Á 0,5779 0,6216 0,4385 0,6735
Thế giới 0,5491 0,5691 0,4155 0,6627
Khối các nước
có thu nhập
trung bình thấp
0,4411 0,4688 0,2703 0,5843
 
 
Bảng 1: So sánh các chỉ số CPĐT của Việt Nam với mức trung bình của thế giới, khu vực năm 2018
 
Đồ thị của bảng so sánh trên được minh họa bên dưới:
 
 
Hình 2: So sánh các chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam với mức trung bình của thế giới, khu vực năm 2018

Việt Nam xếp thứ 7/49 quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp của thế giới, và nằm trong nhóm 10 nước được Liên hợp quốc đánh giá cao do chỉ số phát triển Chính phủ điện tử vượt mức trung bình của thế giới. Dưới đây là bảng so sánh chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam giai đoạn 2010-2018 qua 5 kỳ đánh giá của Liên hợp quốc:
 
Năm Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử
(EGDI)
Chỉ số Dịch vụ công
trực tuyến
(OSI)
Chỉ số về
Hạ tầng viễn thông (TII)
Chỉ số về
Nhân lực
(HCI)
Xếp hạng
2010 0,4454 0,1036 0,0746 0,2672 89/190
2012 0,5217 0,4248 0,3969 0,7434 83/190
2014 0,4705 0,4173 0,3792 0,6148 99/193
2016 0,5143 0,5725 0,3715 0,5989 89/193
2018 0,5931 0,7361 0,3890 0,6543 88/193
 
Bảng 2: So sánh các chỉ số phát triển CPĐT Việt Nam giai đoạn 2012-2018
 
Bên dưới là đồ thị mô tả lịch sử xếp hạng các chỉ số liên quan Chính phủ điện tử của Việt Nam trong 5 kỳ gần nhất (bao gồm cả chỉ số tham gia điện tử EPI, mặc dù chỉ số này không được tính vào xếp hạng Chính phủ điện tử):

Hình 3: Lịch sử xếp hạng các chỉ số liên quan CPĐT của Việt Nam trong 5 kỳ gần nhất
 

Nhận xét: Nhìn vào lịch sử xếp hạng các chỉ số liên quan Chính phủ điện tử của Việt Nam trong 5 kỳ gần nhất, có thể thấy điểm sáng ở đây là chỉ số Dịch vụ công trực tuyến (OSI) với tốc độ tăng khá ổn định. Ngược lại là chỉ số hạ tầng viễn thông (TII) với thứ hạng giảm dần đều qua các kỳ đánh giá. Lý do là một số chỉ số liên tục giảm so với năm 2012 như số thuê bao điện thoại cố định/100 người và số thuê bao điện thoại di động/100 người. Đây là xu thế tất yếu khi thị trường viễn thông trong nước bước vào giai đoạn bão hòa, đồng thời Chính phủ đang thúc đẩy các biện pháp siết chặt quản lý đối với thuê bao di động trả trước.

- Phân tích về chỉ số Dịch vụ công trực tuyến (OSI): Chỉ số này được tính theo tỷ lệ % các dịch vụ công trực tuyến mức độ 1-4 (theo định nghĩa của Liên hợp quốc[3]) trên tổng số các dịch vụ công. Điểm mấu chốt trong đánh giá này là coi người dùng (công dân) là trung tâm nên tính thân thiện, dễ sử dụng, cũng như chất lượng dịch vụ công trực tuyến sẽ quyết định điểm đánh giá là cao hay thấp. Nếu có dịch vụ công trực tuyến nào đó nhưng người dùng bình thường (trình độ trung bình) phải mất nhiều thời gian để tìm và sử dụng thì website vẫn bị cho điểm thấp. So với năm 2016, Việt Nam tăng đáng kể về chỉ số Dịch vụ công trực tuyến (15 bậc, xếp thứ 59/193 quốc gia), xếp thứ 4/11 trong khu vực Đông Nam Á và 20/47 khu vực châu Á, đây là một dấu hiệu khả quan. Tuy nhiên, thực tế chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế, chưa thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp, biểu hiện qua việc có nhiều dịch vụ công trực tuyến nhưng số lượng dịch vụ thực tế có phát sinh hồ sơ lại thấp.

- Phân tích về chỉ số Hạ tầng viễn thông (TII): Thứ hạng của Việt Nam liên tục giảm trong 4 kỳ báo cáo gần nhất của Liên hợp quốc từ 2012 đến 2018, lần lượt là 69, 84, 90 và 100/193, đặc biệt hiện nay nằm dưới mức trung bình của cả khu vực Đông Nam Á, châu Á và thế giới. Các chỉ số thành phần giảm mạnh so với năm 2016 là số thuê bao điện thoại di động/100 người (từ 147,11 xuống 127,53), số người dùng Internet/100 người (từ 48,31 xuống 46,5) và số thuê bao điện thoại cố định/100 người (từ 6,01 xuống 5,92). Đây là điều đáng lo ngại đối với Việt Nam, tuy nhiên có thông tin đáng chú ý như sau: Số liệu Liên hợp quốc lấy của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) chưa được cập nhật mới nhất so với số liệu Việt Nam đã công bố trên Internet[4] (trang Dữ liệu thống kê của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông); số liệu tỷ lệ dân số Việt Nam dùng Internet là 46,5%, thấp hơn nhiều so với số liệu Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố tại Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam năm 2017 (54,19%) và đánh giá của một số tổ chức quốc tế độc lập khác[5], khoảng 66-67%;

- Phân tích về chỉ số Nhân lực (HCI) tăng so với năm 2016 (từ 0,5989, xếp hạng 127/193 lên 0,6543, xếp hạng 120/193), cao hơn mức trung bình của các nước có mức thu nhập trung bình thấp nhưng thấp hơn so với mức trung bình của khu vực Đông Nam Á và châu Á. Lý do chỉ số về nhân lực tăng do Liên hợp quốc đã cập nhật thống kê năm 2015 đối với 02 số liệu thành phần là Số năm học kỳ vọng (từ 11.90 năm 2012 lên 12,6 năm 2015) và Số năm học trung bình (từ 5,50 năm 2012 lên 8 năm 2015); còn số liệu về Tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết và Tỷ lệ đăng ký nhập học chung không thay đổi.

Bên cạnh đó, thứ hạng chỉ số Tham gia điện tử (E-Participation) giảm 29 bậc so với năm 2016 (72/193) nhưng vẫn thuộc nhóm cao, tuy nhiên chỉ số này không dùng để tính cho chỉ số phát triển Chính phủ điện tử.

Nhìn ra các nước láng giềng của chúng ta trong khối ASEAN, có thể thấy về tổng thể đánh giá Chính phủ điện tử, Việt Nam vẫn đứng sau so với 5 nước Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan, và Philippines, tuy nhiên, khoảng cách giữa Việt Nam với Thái Lan và Philippines không quá xa. Một điểm đáng khích lệ là chúng ta đã được xếp trong Nhóm 4 quốc gia đứng đầu ASEAN về chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI), như minh họa bên dưới:

Hình 4: So sánh các xếp hạng CPĐT của Việt Nam năm 2016 với 4 nước trong ASEAN

 
Hình 5: So sánh các xếp hạng CPĐT của Việt Nam năm 2018 với 4 nước trong ASEAN
 
Như vậy, nhìn vào so sánh tương quan giữa Việt Nam với các nước xếp trên trong ASEAN, có thể thấy ngoài Singapore vượt hẳn lên trên và nằm trong tốp đầu của thế giới, Malaysia cũng bứt phá và đạt đến tầm châu lục (nằm trong tốp 10 của châu Á). Còn lại Thái Lan, Philippines và Việt Nam được xếp ở mức khá gần nhau đối với chỉ số xếp hạng chung, Thái Lan vượt trội về xếp hạng nguồn nhân lực, còn Philippines vượt trội về dịch vụ công trực tuyến.
 

Hình 6: Lịch sử xếp hạng CPĐT của 7 nước ASEAN thuộc nhóm trên trong 5 kỳ gần nhất

Đánh giá tổng thể, Việt Nam tuy có một số tiến bộ nhất định nhưng vẫn còn chậm (đặc biệt là so với các nước trong ASEAN), vì vậy cần phải nỗ lực tăng tốc để bắt kịp tốc độ phát triển Chính phủ điện tử chung của các nước trên thế giới. Muốn vậy, Việt Nam cần sớm xây dựng và hoàn thành các cơ sở dữ liệu quốc gia, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về dân cư, kết nối đồng bộ với nền tảng hạ tầng tích hợp, liên thông các dịch vụ công trực tuyến. Theo xu hướng toàn cầu, các công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data) đi kèm xử lý và phân tích dữ liệu (Analytics), thiết bị di động, mạng xã hội, vạn vật kết nối (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), kinh doanh thông minh (BI)… cần được ứng dụng nhiều hơn trong phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam, như khuyến nghị của Liên hợp quốc.
 
Mạnh Linh – Đức Trung
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
 
 
 

[1] https://publicadministration.un.org/egovkb/Portals/egovkb/Documents/un/2018-Survey/E-Government Survey 2018_FINAL for web.pdf
[2] http://workspace.unpan.org/sites/Internet/Documents/UNPAN97854.pdf
[3]Mức độ 3, 4 trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến mà Liên hợp quốc định nghĩa có sự khác biệt so với mức độ 3, 4 trong cấp dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam được quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Cụ thể, Liên hợp quốc định nghĩa như sau:
- Mức độ 3: Giao dịch. Mức độ này thể hiện ở sự tương tác 2 chiều giữa công dân và Chính phủ (bao gồm khai và trả tiền thuế, đăng ký chứng minh thư, giấy khai sinh, hộ chiếu, cấp đổi giấy phép các loại, cho phép công dân khai báo trực tuyến 24/7). Ở mức độ này, các website của Chính phủ có thể xử lý cả các giao dịch tài chính và phi tài chính.
- Mức độ 4: Kết nối, thể hiện cấp độ cao nhất trong phát triển Chính phủ điện tử, khi các cơ quan nhà nước được kết nối một cửa liên thông với các ứng dụng tích hợp trên website để xử lý thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân một cách thông suốt, nhanh chóng.
[4] http://vnta.gov.vn/thongke/Trang/dulieuthongke.aspx#
[5] https://wearesocial.com/blog/2018/01/global-digital-report-2018
https://www.internetworldstats.com/stats3.htm