Công tác hỗ trợ người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây - Thực trạng và giải pháp

21/12/2018

Hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện các thủ tục yêu cầu nhà nước bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về mặt chính trị lẫn xã hội

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 đã quy định một trong những trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường đó là hướng dẫn người yêu cầu bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường (khoản 9 Điều 15). Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, có nhiệm vụ, quyền hạn về hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường (điểm đ khoản 2 Điều 73) và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn về hướng dẫn người bị hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương mình (điểm c khoản 3 Điều 73). 
 
Ảnh: Bộ Tư pháp tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước

 
Bên cạnh đó, Luật TNBTCNN năm 2017 còn mở rộng các đối tượng được quyền yêu cầu bồi thường, nên ngoài người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thì các đối tượng khác cũng được trao quyền thực hiện yêu cầu bồi thường thay người bị thiệt hại, như: Đại diện theo pháp luật cho người bị thiệt hại, đại diện theo ủy quyền cho người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại... Theo đó, tất cả các tổ chức, cá nhân đều có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường khi cung cấp được cho cơ quan giải quyết bồi thường các văn bản, giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp của mình. Quy định này nhằm bảo đảm tốt hơn nữa quyền và lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại trong trường hợp họ không thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

Thời gian qua, hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường của nhà nước đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường nhà nước. Thông qua hoạt động hỗ trợ này đã phát hiện ra những bất cập, vướng mắc trong quy định định của Luật TNBTCNN liên quan đến thực hiện hoạt động hỗ trợ, cụ thể:

Thứ nhất, việc áp dụng quy định của Luật TNBTCNN với một số tình huống cụ thể
Có thể dẫn chứng trường hợp oan sai của ông Nguyễn Lâm Sáu, trú tại 60 Võ Văn Kiệt, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Mê Thuật, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 14/11/1985, ông Nguyễn Lâm Sáu bị Công an tỉnh Đắk Lắk khám nhà và bị tạm giam 10 ngày. Quá trình bắt và khám xét nhà của ông Sáu không có lệnh, sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát. Khi được tạm tha, ông Sáu làm đơn kêu oan. Sau mấy chục năm ông Sáu có đơn, đến năm 2013 Công an tỉnh Đắk Lắk mới ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong đó có kết luận: ông Nguyễn Lâm Sáu bị tạm giữ quá 03 ngày và ông Sáu không có lệnh tạm giam, tạm giữ, không có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Nhưng do điều tra viên sử dụng không đúng mẫu văn bản tố tụng nên đã ảnh hưởng và gây thiệt hại về tinh thần và vật chất cho ông Sáu. Ngày 25/01/2018, Công an tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức công khai xin lỗi ông Nguyễn Lâm Sáu. Theo quy định tại Điều 1 Luật TNBTCNN thì ông Sáu thuộc đối tượng được bồi thường. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 18 Luật TNBTCNN về phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự thì trường hợp của ông Sáu lại không được bồi thường, mặc dù thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với ông là có thật.

Theo Điều 17 của Luật TNBTCNN quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong 14 trường hợp, như: Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật; áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;…

Tuy nhiên, lĩnh vực hành chính là lĩnh vực có thể phát sinh nhiều sai phạm gây ra thiệt hại cho người dân. Những hoạt động hành chính có thể gây ra thiệt hại cho người dân không chỉ là những quyết định hành chính mà còn do những hành vi hành chính của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ. Do đó, nếu chỉ quy định cứng theo cách liệt kê những trường hợp phải bồi thường theo Điều 17 của Luật TNBTCNN như hiện nay là chưa đầy đủ.

Thứ hai, về thẩm quyền hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường
Theo quy định tại Điều 73 Luật TNBTCNN, cơ quan có trách nhiệm thực hiện hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án bao gồm: Bộ Tư pháp hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại trong phạm vi cả nước. Nhiệm vụ này giao cho Cục Bồi thường nhà nước, trong đó có Trung tâm hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thuộc Cục là đơn vị thực hiện nhiệm vụ này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của người bị thiệt hại trong phạm vi địa phương mình. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này. Đồng thời, trên cơ sở phối hợp trong công tác bồi thường nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, Luật TNBTCNN cũng đã quy định một số cơ quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện viêc hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước: Tòa án nhân dân tối cáo, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (khoản 1 Điều 74); các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (khoản 1 Điều 75).

Tuy nhiên, đối với trường hợp người bị thiệt hại gửi yêu cầu hỗ trợ tới cả Sở Tư pháp, Bộ Tư pháp và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực phát sinh bồi thường thì việc hỗ trợ thuộc thẩm quyền của cơ quan nào lại chưa được quy định. Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan cùng hướng dẫn cùng một vụ việc, với nội dung hướng dẫn không có sự thống nhất, gây khó khăn cho quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường của phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người dân.

Thứ ba, về đối tượng, phạm vi việc thực hiện công tác hỗ trợ
Người bị thiệt hại chỉ là một trong nhiều đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường, như: Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại. Như vậy, nếu chỉ quy định về việc hướng dẫn hoặc hỗ trợ cho “người bị thiệt hại” thì có bảo đảm thực hiện quyền được hỗ trợ cho các đối tượng trên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 13 Luật TNBTCNN hay không? Bên cạnh đó, hiện nay Luật TNBTCNN và văn bản hướng dẫn thi hành luật cũng chưa quy định cụ thể về hình thức, trình tự, thủ tục, thời hạn hỗ trợ.

Qua phân tích trên cho thấy, để hoạt động hỗ trợ người thuộc đối tượng được bồi thường đạt hiệu quả thì cần thiết phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, cơ cấu lại Trung tâm hỗ trợ thực hiện yêu cầu bồi thường thuộc Cục Bồi thường nhà nước; rà soát, bố trí cán bộ, công chức làm công tác hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường tại các Sở Tư pháp để bảo đảm ổn định vị trí công tác tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo nghiệp vụ, chuyên môn.

Hai là, thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ về công tác bồi thường nhà nước đến các đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước tại các cơ quan giải quyết bồi thường nói chung và cán bộ, công chức nhà nước hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn người yêu cầu bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường tại các Sở Tư pháp nói riêng.

Ba là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân. Bên cạnh đó, cần liên tục đổi mới, đa dạng hóa các hình thức hướng dẫn, hỗ trợ người yêu cầu bồi thường. Đặc biệt, cần tích cực nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin trong công tác này nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho người yêu cầu bồi thường trong quá trình thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình.

Bốn là, tăng cường sự trao đổi, phối hợp giữa cơ quan có chức năng hướng dẫn thủ tục với cơ quan trực tiếp giải quyết bồi thường; giữa các lĩnh vực; giữa cơ quan có chức năng hướng dẫn thủ tục với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng tư vấn, hỗ trợ pháp luật hoặc giữa các cơ quan với nhau khi có phát sinh vướng mắc. Hoạt động trao đổi, phối hợp trong công tác bồi thường cần được thực hiện kịp thời, thống nhất, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.

Năm là, cần rà soát, nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước. Trong quá trình triển khai thi hành luật trong thực tiễn, cần nghiên cứu bám sát việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong các tình huống thực tế để tổng kết, phân tích, đánh giá sự phù hợp các quy định của Luật để có các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người bị thiệt hại cũng như cơ quan giải quyết bồi thường. Bên cạnh đó, hiện nay việc cung cấp thông tin pháp lý theo yêu cầu của người bị thiệt hại hiện nay đang được Trung tâm Hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thuộc Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp thực hiện trên cơ sở Quyết định số 39/QĐ-BTNN ngày 04/11/2012 của Cục trưởng Cục Bồi thường nhà nước. Tuy nhiên, với những quy định mới của Luật TNBTCNN năm 2017 về công tác này, để triển khai có hiệu quả công tác hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong thời gian tới, việc nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể công tác cung cấp thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường là cần thiết, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng, qua đó nâng cao vai trò của công tác hỗ trợ người bị thiệt hại, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền được hỗ trợ thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường của mình./.

Nguyễn Thị Bích Ngân
Cục Kiểm soát TTHC