Một số khuyến nghị nhằm cải thiện chỉ số Tiếp cận tín dụng

03/06/2019

Tiếp cận tín dụng được coi là một trong 11 yếu tố quan trọng đối với việc duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và là một trong mười chỉ số được đề cập trong Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới (NHTG).

Để đánh giá về tiêu chí tiếp cận tín dụng của mỗi quốc gia, NHTG phân tích chỉ số sức mạnh quyền pháp lý và chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng. Đây là hai chỉ số giữ vai trò then chốt góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận vốn vay. Chỉ số sức mạnh quyền pháp lý được đánh giá thông qua bảng hỏi của NHTG gồm 12 cấu phần, trong đó 10 cấu phần có liên quan đến pháp luật về tài sản bảo đảm và 2 cấu phần liên quan đến pháp luật phá sản. Từ Bảng hỏi, nhóm công tác xây dựng Báo cáo Môi trường kinh doanh sẽ đưa ra kết luận đối với các tiêu chí tương ứng để hoàn thành việc chấm điểm tiêu chí tiếp cận tín dụng của một quốc gia. Chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng đánh giá các quy định về phạm vi thông tin tín dụng, khả năng tiếp cận thông tin tín dụng thông qua cơ quan cung cấp thông tin tín dụng công hoặc tư nhân. Chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng được chấm điểm từ 0-8, điểm càng cao càng cho thấy sự sẵn có về thông tin tín dụng từ công ty cung cấp thông tin tín dụng công và tư nhân nhằm hỗ trợ quyết định cho vay. Nếu công ty cung cấp thông tin tín dụng công và tư nhân không có hoạt động hoặc thu thập thông tin của ít hơn 5% dân số trưởng thành thì điểm số chiều sâu thông tin tín dụng của quốc gia đó là 0 điểm.

 Điểm số tiếp cận tín dụng của Việt Nam từ 2011 đến nay
Giai đoạn từ 2011 đến 2014 ghi nhận một sự tương đối ổn định về điểm số tiếp cận tín dụng và các điểm số của các chỉ số thành phần. Trong suốt 4 năm, điểm số của các chỉ số về quyền pháp lý và chiều sâu thông tin tín dụng lần lượt ở 07/10 và 04/06 điểm. Tuy nhiên, năm 2014 là một năm đánh dấu sự thay đổi về phương pháp đánh giá điểm số tiếp cận tín dụng, cụ thể là các tiêu chí thành phần của các điểm số nói trên đều có sự gia tăng. Đối với điểm số về quyền pháp lý, NHTG bổ sung thêm 2 chỉ tiêu, nâng tổng số chỉ tiêu là 12; tương tự, tổng số chỉ tiêu cấu phần chiều sâu thông tin tín dụng cũng được tăng lên thành 08 chỉ tiêu. Theo phương pháp đánh giá mới, năm 2014, Việt Nam đạt 07/12 điểm đối với quyền pháp lý và 06/08 điểm đối với chiều sâu thông tin tín dụng.

Từ 2015 đến 2017, Việt Nam không có sự cải thiện về khuôn khổ pháp lý tác động đến điểm số về quyền pháp lý, tuy nhiên, đối với điểm số về chiều sâu thông tin tín dụng, Việt Nam đã gần đạt điểm tuyệt đối, 07/08 điểm. Theo  Báo cáo môi trường kinh doanh công bố năm 2017, chỉ số tiếp cận tín dụng Việt Nam đã tăng 03 bậc (từ vị trí 32 lên 29[1]) , điểm số DTF[2] đạt 75/100 (so với điểm số DTF của 2017 là 70/100). Có được sự thay đổi tích cực về mặt điểm số như vậy là do điểm số về quyền pháp lý của Việt Nam đã được tăng thêm 1 điểm, đạt 8/12 điểm.

Tuy nhiên, năm 2018, NHTG không ghi nhận được bất kỳ sự cải thiện của Việt Nam đối với Chỉ số tiếp cận tín dụng, điểm thành phần (sức mạnh quyền pháp lý, chiều sâu thông tin tín dụng), cũng như không có bất kỳ sự thay đổi thụt lùi về mặt chính sách và điểm DTF không có sự thay đổi so với điểm số được ghi nhận năm 2017 nhưng thứ bậc của chỉ số tiếp cận tín dụng bị tụt 03 bậc (xếp thứ 32/190). 
 

Điểm số của Việt Nam giai đoạn từ 2014 đến 2019 (NguồnDoingbusiness.org)

 

Theo kết quả trên, có thể thấy rằng trong khi điểm số trung bình về sức mạnh quyền pháp lý và chiều sâu thông tin tín dụng của khối các nước Đông Á và Thái Bình Dương hiện đang lần lượt là 7.1 và 4.2 điểm, của khối các nước OECD là 6.1 và 6.7 điểm thì điểm tương ứng của Việt Nam cao hơn.

Một số khuyến nghị nhằm cải thiện chỉ số tiếp cận tín dụng ở Việt Nam
Bộ Tư pháp cần tiếp tục rà soát tổng thể, đánh giá ý nghĩa của việc đăng ký giao dịch bảo đảm. Khi đã coi việc đăng ký giao dịch bảo đảm là một quyền của bên nhận bảo đảm thì hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm cần được tối giản hóa, tạo điều kiện để bên nhận bảo đảm thực hiện và bảo vệ tối đa quyền lợi của mình cũng như ngăn chặn các rủi ro cho các chủ nợ đến sau.

Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi quy định về giao dịch bảo đảm tại Bộ Luật Dân sự 2015 đối với các nội dung có liên quan đến đối tượng đăng ký giao dịch bảo đảm theo hướng tất cả các biện pháp bảo đảm đều có thể được đăng ký giao dịch bảo đảm. Nghị định hướng dẫn việc đăng ký giao dịch bảo đảm cần sửa đổi theo hướng hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ bao gồm các thông tin cơ bản về giao dịch bảo đảm và thông tin về các bên có liên quan trong giao dịch bảo đảm mà không yêu cầu việc cung cấp các bằng chứng về giao dịch cơ sở - giao dịch được bảo đảm; hướng dẫn về hồ sơ đăng ký, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch bảo đảm cũng như quy trình tra cứu thông tin trực tuyến để người yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm và người đại diện của họ cũng như người có nhu cầu tra cứu thông tin về giao dịch bảo đảm có thể thực hiện các thao tác và nhận kết quả một cách nhanh chóng, hiệu quả và ít tốn kém nhất.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư – cơ quan chủ trì tổng hợp ý kiến của Bộ, ngành và là cơ quan đầu mối làm việc với nhóm công tác của NHTG khi xây dựng Báo cáo Môi trường kinh doanh cần đề nghị NHTG đánh giá lại tiêu chí có liên quan đến phương thức thực hiện đăng ký, tra cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy quyền bảo đảm do quy định của pháp luật Việt Nam đã thừa nhận các bên có thể đăng ký, tra cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy quyền bảo đảm cũng như yêu cầu tra cứu thông tin về giao dịch bảo đảm theo cách thức trực tuyến và quyền thanh toán tài sản bảo đảm trước khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản.
 

 Cải thiện quy định về bảo vệ quyền chủ n

Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu, xác định các cơ chế để bảo vệ quyền của chủ nợ, giảm thiểu những ảnh hưởng từ các quy trình, thủ tục phá sản đối với việc thực thi quyền chủ nợ. Cụ thể: (1) Quy định khoảng thời gian của giai đoạn tạm đình chỉ thực hiện xử lý tài sản bảo đảm theo hướng tối thiểu hóa, đặc biệt là khi bên nợ được đặt vào giai đoạn tái cấu trúc. Trong trường hợp, bên nợ bị đặt vào tình trạng thanh lý doanh nghiệp, khoảng thời gian của giai đoạn tạm đình chỉ được coi là hợp lý (giả sử khoảng từ 30-60 ngày[3]), đủ để quản tài viên thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc đánh giá tổng tài sản của bên nợ. Nếu tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc bán doanh nghiệp thì giai đoạn tạm đình chỉ cần được dỡ bỏ để chủ nợ có bảo đảm chủ động trong việc xử lý tài sản bảo đảm: (2) Dỡ bỏ giai đoạn tạm đình chỉ. Trường hợp giá trị nghĩa vụ nợ mà chủ nợ có bảo đảm yêu cầu bên nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán lớn hơn so với giá trị của tài sản bảo đảm hoặc khi tài sản bảo đảm có nguy cơ bị sụt giảm về mặt giá trị hoặc khi trong giai đoạn tái cấu trúc của doanh nghiệp, kế hoạch tái cơ cấu không được thông qua trong khoảng thời gian cho phép, chủ nợ có bảo đảm có thể yêu cầu được dỡ bỏ giai đoạn tạm đình chỉ. Tài sản bảo đảm cần được chuyển cho chủ nợ có bảo đảm để xử lý.

Sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan đến chiều sâu thông tin tín dụng:

Chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng của Việt Nam đã đạt 07/08 tiêu chí, trong đó duy nhất tiêu chí liên quan đến nguồn cung cấp thông tín dụng được NHTG đánh giá là chưa đầy đủ. Theo đó, tiêu chí này được cụ thể hóa như sau: “Bên cạnh các thông tin thu thập từ tổ chức tài chính, các thông tin từ nhà bán lẻ và các công ty cung cấp dịch vụ tiện ích cũng được thu thập” nhằm mục đích xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin tín dụng của khách hàng.

Việc chưa thu thập được thông tin từ các Công ty dịch vụ tiện ích (viễn thông, điện, nước…) do: (1) Chưa có văn bản pháp lý cho phép các Công ty dịch vụ tiện ích chia sẻ thông tin cho Trung tâm thông tin tín dụng công và tư tại Việt Nam (CIC). Chưa có sự ủng hộ, chỉ đạo quyết liệt của các Bộ, ngành chủ quản các doanh nghiệp này đối với việc cung cấp thông tin cho CIC. (2) Bộ Luật Dân sự, Luật An toàn Thông tin mạng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một số Luật chuyên ngành (như Luật viễn thông, Luật điện lực…) yêu cầu các Công ty dịch vụ tiện ích phải bảo đảm bí mật thông tin về khách hàng. Do vậy, các doanh nghiệp này còn quan ngại về tính pháp lý khi cung cấp thông tin khách hàng cho CIC. (3) Pháp luật chưa quy định rõ việc cung cấp thông tin cho CIC nên việc cung cấp thông tin hiện chỉ thực hiện được nếu có sự đồng ý của khách hàng. Vì vậy, để cung cấp thông tin các Công ty dịch vụ tiện ích phải bổ sung thêm điều khoản trong hợp đồng với khách hàng cho phép chia sẻ thông tin với CIC. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp và gây tốn kém chi phí trong việc ký kết lại hợp đồng dịch vụ với khách hàng.

Để tháo gỡ vướng mắc nêu trên, thời gian tới, Chính phủ cần kiến nghị Quốc hội sửa đổi các Luật chuyên ngành để cho phép các Công ty dịch vụ tiện ích cung cấp thông tin khách hàng cho các Trung tâm thông tin tín dụng công và tư tại Việt Nam. Trường hợp không sửa đổi các Luật chuyên ngành nêu trên, Chính phủ kiến nghị Quốc hội giao xây dựng Luật bảo vệ dữ liệu như kinh nghiệm một số quốc gia, trong đó có đề cập đến việc chia sẻ thông tin của các Công ty dịch vụ tiện ích. Để tháo gỡ vướng mắc trước mắt, Chính phủ cần yêu cầu các Bộ liên quan (Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Công thương…) chỉ đạo các Công ty dịch vụ tiện ích chia sẻ thông tin với CIC, trong đó cần bổ sung điều khoản cho phép chia sẻ thông tin khách hàng với các Trung tâm Thông tin tín dụng vào hợp đồng với các khách hàng sử dụng dịch vụ để đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nguyễn Thị Trà Lê, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính

________________

[1] Điểm số tiếp cận tín dụng của Việt Nam trong năm 2018 đã có sự cải thiện đáng kể vượt cả mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 19 năm 2017 (Mục tiêu tăng thứ bậc từ 32 lên 30 đối với chỉ số tiếp cận tín dụng, kết quả cho thấy, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam đã tăng từ 32 lên 29)

[2] Điểm số Distance to Frontier – thể hiện điểm số so với quốc gia có điểm số tuyệt đối

[3] Khoảng thời gian cụ thể cũng cần có nghiên cứu để đảm bảo tính hợp lý nhưng cũng không làm ảnh hưởng đến thời gian xử lý quyền và lợi ích của các bên có thể có liên quan, đặc biệt khi tài sản được sử dụng để đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ, nhiều giao dịch, nhiều chủ thể khác nhau.