Cần tiếp tục đơn giản hóa quy trình, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp và các thủ tục có liên quan

22/11/2019

Quy định về thủ tục Đăng ký thành lập doanh nghiệp đã tương đối đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên, vẫn còn bất cập trong thực hiện thủ tục này gây ra những phiền hà cho doanh nghiệp đòi hỏi phải nghiên cứu, tiếp tục cải cách, đơn giản hóa.

Thực trạng
Hiện nay, thủ tục Đăng ký thành lập doanh nghiệp được điều chỉnh bởi 06 văn bản quy phạm pháp luật sau: Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014; Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/08/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08/01/2019 của  Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp; Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp; Thông thư số 47/2019/TT-BTC ngày 05/08/2019 của Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn hình thức đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử. Tức là cho phép lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện qua hình thức nộp trực tuyến. Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp bắt buộc phải nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (tại địa chỉ: dangkykinhdoanh.gov.vn)
Về quy trình thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, được chia thành hai trường hợp như sau:
Trường hợp 1, nộp hồ sơ trực tuyến bằng chữ ký số công cộng. Quy trình này đã được cung cấp dịch vụ công mức độ 4, các thao tác thực hiện đã khá rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện. Tuy nhiên, số lượng người đăng ký thực hiện theo quy trình này chiếm tỉ lệ nhỏ, vì để đăng ký chữ ký số công cộng, thường tốn kém một khoản chi phí nhất định;
Trường hợp 2, nộp hồ sơ trực tuyến bằng tài khoản đăng ký kinh doanh. Với trường hợp này, sau khi nộp trực tuyến, doanh nghiệp vẫn tiếp tục phải nộp hồ sơ giấy cho Cơ quan đăng ký kinh doanh khi đến nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cụ thể quy trình thực hiện với trường hợp này như sau:
Người thực hiện thủ tục đăng ký tài khoản tại trang dangkyquamang.dkkd.gov.vn và tiến hành nhập thông tin, tải thành phần hồ sơ theo hướng dẫn. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ đăng ký, người thực hiện thủ tục sẽ nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.
Cơ quan Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ. Khi hồ sơ đã đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Cơ quan Đăng ký kinh doanh gửi thông tin sang cơ quan thuế để tạo mã số thuế đồng thời là mã số doanh nghiệp. Sau khi nhận được mã số doanh nghiệp từ cơ quan thuế, Cơ quan Đăng ký kinh doanh thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Sau khi nhận được thông báo về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thực hiện thủ tục nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy kèm theo Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đến Cơ quan Đăng ký kinh doanh.
Sau khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy, Cơ quan Đăng ký kinh doanh đối chiếu đầu mục hồ sơ với đầu mục hồ sơ doanh nghiệp đã gửi qua mạng điện tử và trao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp nếu nội dung đối chiếu thống nhất.
Nếu quá thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà Phòng Đăng ký kinh doanh không nhận được hồ sơ bằng bản giấy thì hồ sơ đăng ký điện tử của doanh nghiệp không còn hiệu lực.
Cụ thể sơ đồ quy trình như sau:
 
(Ảnh: Tâm Vũ)
 
Như vậy, từ quy trình trên dễ thấy, việc bắt người thực hiện thủ tục phải thực hiện song song cả nộp trực tuyến và nộp bản giấy sẽ mất rất nhiều thời gian, chi phí của người thực hiện.
Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều thủ tục hành chính khác yêu cầu thành phần hồ sơ là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (VD: thủ tục khai báo lao động; đăng ký mở tài khoản ngân hàng; cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh, trật tự; các thủ tục liên quan đến cấp phép hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có điều kiện như: Cấp giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy và chữa cháy; Cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu; ….) do đó, để thực hiện các thủ tục này, doanh nghiệp phải thực hiện công chứng, chứng thực, cung cấp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục đó, gây tốn kém chi phí hành chính cho doanh nghiệp.
 
Ảnh minh họa – Nguồn: Internet
 

Giải pháp
Thứ nhất, để tạo thuận lợi cho người thực hiện, cần áp dụng hoàn toàn dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với thủ tục thành lập doanh nghiệp. Theo đó, cần phải nâng tầm pháp lý của tài khoản đăng ký kinh doanh để đảm bảo người dùng chỉ cần sử dụng tài khoản này để nộp trực tuyến là đủ. Đồng thời, kết quả giải quyết thủ tục là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ được lưu trữ trực tuyến, cho phép doanh nghiệp chỉ cần sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh để thực hiện tra cứu thông tin hoặc in Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ở bất kỳ đâu hoặc bất kỳ lúc nào tùy theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. Quy trình thực hiện TTHC sẽ như sau:
 
(Ảnh: Tâm Vũ)

 
Thứ hai, để giảm thiểu thành phần hồ sơ của thủ tục này là: Giấy chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực đối với cá nhân là người Việt Nam thì cần có sự kết nối, chia sẻ các thông tin của người dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, theo đó người dân khi thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ không phải nộp bản sao Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực, mà chỉ cần cung cấp họ tên và mã số công dân; các thông tin cá nhân khác sẽ được tự động trích xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Thứ ba, để giảm thiểu thành phần hồ sơ là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong quá trình doanh nghiệp thực hiện các thủ tục khác sau khi thành lập (VD: khai báo sử dụng lao động, mở tài khoản ngân hàng, đăng ký hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có điều kiện,….) đề nghị có sự chia sẻ dữ liệu về doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước khác. Theo đó, doanh nghiệp chỉ cần cung cấp tên và mã số doanh nghiệp trong các mẫu đơn, tờ khai khi thực hiện các TTHC khác. Cơ quan nhà nước giải quyết TTHC có trách nhiệm tra cứu thông tin về doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Để có thể thực hiện các nội dung cải cách trên thì cần thiết sửa các nội dung liên quan trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn. Đồng thời, Bộ Công an cần sớm hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đảm bảo điều kiện tích hợp và chia sẻ thông tin với Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp./.
Tâm Vũ
Cục Kiểm soát TTHC