Sơn La tập trung triển khai đồng bộ cải cách hành chính với phát triển kinh tế xã hội

02/08/2019

Với quyết tâm tạo sự đột phá về cải cách hành chính, thời gian qua, Sơn La đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, về tổng thể còn một số hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để làm đòn bẩy thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ.

Phát biểu kết luận trong buổi kiểm tra công tác cải cách hành chính của Đoàn Kiểm tra cải cách hành chính của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đánh giá tỉnh Sơn La đã có nhiều đổi mới tư duy kinh tế, thực hiện cách nghĩ, cách làm mới trong phát triển kinh tế - xã hội. Những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La phản ánh rõ nét nhất kết quả cuối cùng của cải cách hành chính, của sự chuyển biến trong công tác chỉ đạo, điều hành và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước “kiến tạo, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp”.
Đổi mới tư duy kinh tế tạo động lực phát triển
Sơn La có diện tích 14.174 km2; dân số hơn 1,2 triệu người, gồm 12 dân tộc, sinh sống tại 11 huyện, 01 thành phố, 204 xã, phường thị trấn và 2.749 bản, tổ dân phố, trong đó có 118 xã và 259 bản đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II được đầu tư theo chương trình 135. Thời gian vừa qua, với sự đổi mới về tư duy kinh tế đã giúp kinh tế của tỉnh Sơn La tiếp tục tăng trưởng nhanh, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, các vấn đề an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững được thực hiện tốt. Theo báo cáo của tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 ước tăng 4,19% so với cùng kỳ năm 2018; đã thu hút đầu tư và đưa 03 nhà máy chế biến nông sản vào hoạt động, đồng thời công bố thương hiệu cho 06 sản phẩm nông sản, duy trì và phát triển 61 chuỗi nông sản, thủy sản an toàn, thành lập mới được thêm 34 hợp tác xã nâng tổng số hợp tác xã toàn tỉnh là 584 hợp tác xã. Toàn tỉnh hiện có 62.734 ha cây ăn quả, ước sản lượng các loại quả trong 6 tháng đầu năm đạt 138.074 tấn, tăng 74,8% so với cùng kỳ năm 2018; trồng mới 1.692 ha cây ăn quả trên đất dốc, nâng tổng diện tích cây ăn quả trồng trên đất dốc lên 28.578 ha. Vì vậy, 6 tháng đầu năm 2019, tỉnh đã xuất khẩu sang thị trường 15 nước (tăng thêm 03 nước so với năm 2018, gồm: Anh, Bỉ, Campuchia), giá trị xuất khẩu đạt 76,455 triệu USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, đạt 53% kế hoạch, trong đó xuất khẩu chính ngạch ước đạt 4,148 triệu USD, riêng thị trường Nhật Bản đạt 2,304 triệu USD. Tỉnh đã hình thành các cụm công nghiệp; thu hút được các tập đoàn lớn đầu tư vào tỉnh như: Tập đoàn VinGroup; Tập đoàn TH; Tập đoàn cá tầm Việt Nam,… đóng góp vào sự phát triển kinh tế của tỉnh. Bên cạnh đó, Sơn La cũng tập trung thực hiện tốt hơn các vấn đề an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và thực hiện các chính sách xã hội; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Theo báo cáo, đến hết năm 2018, toàn tỉnh Sơn La có 26 xã đạt chuẩn nông thôn mới; đầu tư lưới điện thêm 106 bản với 11.443 hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, nâng tỉ lệ hộ được sử dụng điện quốc gia lên 93,8%; tiếp tục đầu tư các công trình cấp nước tập trung và công trình cấp nước nhỏ lẻ, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch đạt 54,3%, trong đó ở khu vực thành thị đạt 92,5%; tỷ lệ trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 40,9%; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,39% dân số; tổng lượt khách du lịch năm 2018 đạt 1,95 triệu lượt, doanh thu đạt 1.300 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2017.
 
 Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình làm việc với tỉnh Sơn La

Trên cơ sở đó, đánh giá về kết quả cải cách hành chính đạt được của tỉnh Sơn La, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đánh giá cao những nỗ lực, quyết tâm trong chỉ đạo, điều hành, gắn kết chặt chẽ cải cách hành chính với phát triển kinh tế - xã hội nên kinh tế của tỉnh Sơn La tiếp tục tăng trưởng nhanh; môi trường kinh doanh được cải thiện; các vấn đề an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và thực hiện các chính sách xã hội tiếp tục được triển khai tốt; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ổn định. Trong đó, Đồng chí Trương Hòa Bình đặc biệt nhấn mạnh về việc tỉnh Sơn La đã có nhiều đổi mới tư duy kinh tế, thực hiện cách nghĩ, cách làm mới trong phát triển kinh tế - xã hội với bảy chương trình kinh tế trọng tâm nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Tỉnh đã rất quan tâm, nghiên cứu, xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi cây trồng trên đất dốc, khuyến khích doanh nghiệp phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến để dần xóa bỏ tập quán canh tác lạc hậu, cũng như khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh về đất đai, khí hậu của địa phương, đưa nông sản của Sơn La tham gia thị trường trong nước và vươn ra thị trường thế giới. Theo đó, giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2018 của tỉnh Sơn La đạt 115,8 triệu USD, trong đó xuất khẩu nông sản, thực phẩm chiếm 98,5% (tăng 1,69 lần so với năm 2017) với 16 loại sản phẩm vào thị trường 12 nước như: Xoài 3.500 tấn (giá trị 1,75 triệu USD) sang thị trường Australia, Nhật Bản,…; nhãn tươi 5.035 tấn (giá trị 11,42 triệu USD) sang Trung Quốc, Mỹ,..; chanh leo 1.700 tấn (giá trị 1,9 triệu USD) sang Pháp, Thụy Sĩ, Ba Lan,… Đây là phản ánh rõ nét nhất kết quả cuối cùng của cải cách hành chính, của sự chuyển biến trong công tác chỉ đạo, điều hành và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước “kiến tạo, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp”.
Bên cạnh đó, trong từng nội dung cụ thể của công tác cải cách hành chính của tỉnh Sơn La, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng ghi nhận một số kết quả rất đáng khích lệ như:
Thứ nhất, công tác chỉ đạo, đôn đốc triển khai, bố trí nguồn lực cho cải cách hành chính đã được quan tâm, trong đó đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ cải cách hành chính với thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xác định rõ và đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính; chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức.
Thứ hai, chất lượng thể chế dần được hoàn thiện thông qua việc tổ chức thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Sơn La”.
Thứ ba, công tác công khai, minh bạch thủ tục hành chính đã được quan tâm, triển khai tương đối toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, cơ quan, đơn vị; chất lượng giải quyết thủ tục hành chính được cải thiện, tạo sự chuyển biến rõ nét chất lượng phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đối với người dân và doanh nghiệp thông qua việc triển khai thực hiện Trung tâm phục vụ hành chính công, hệ thống một cửa điện tử và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại 12/12 huyện, thành phố, 204/204 xã, phường, thị trấn.
Thứ tư, Tỉnh đã thành lập tổ nghiên cứu xây dựng Đề án thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Theo đó, Tỉnh đã ban hành 13 đề án kiện toàn, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định; giảm 40 phòng thuộc sở, giảm 8 chi cục, giảm 31 phòng thuộc chi cục, giảm 145 đơn vị sự nghiệp, 19 phòng, khoa thuộc đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, giảm 24 phòng thuộc UBND cấp huyện, giảm 142 lãnh đạo, quản lý. Tỉnh ủy giảm 02 ban chỉ đạo, 09 tổ công tác; Uỷ ban nhân dân tỉnh giải thể 28/34 Ban chỉ đạo. 
Thứ năm, Tỉnh đã thi tuyển chọn chức danh lãnh đạo tại 09 cơ quan, đơn vị với 11 vị trí thi tuyển; đồng thời có chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trong đó tính đến nay, tổng số cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn là 4.375 trên tổng số 4.600 cán bộ, công chức cấp xã, đạt 95,11%, tăng 1,37% so với năm 2018.
Thứ sáu, Tỉnh đã giao quyền tự chủ đối với các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Sơn La giai đoạn 2018 - 2020; 15 đơn vị chuyển từ đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi thường xuyên sang đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, chuyển đổi 01 đơn vị sự nghiệp công lập thành Công ty cổ phần. Trong 6 tháng đầu năm 2019, Tỉnh tiếp tục giao tự chủ đối với 7 đơn vị sự nghiệp.
Thứ bảy, Công tác xây dựng chính quyền điện tử bước đầu đang được tổ chức triển khai, trong đó đã triển khai gửi, nhận văn bản điện tử với Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành triển khai tới 100% các các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, UBND các xã/phường/thị trấn và kết nối thành công với Trục liên thông văn bản quốc gia; đã nghiên cứu, tổ chức cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.
Cuối cùng, Tỉnh đã có giải pháp truyền thông để nâng cao nhận thức, khuyến khích sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trong thực hiện cải cách hành chính như: Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Sơn La đã phát sóng gần 300 tin, 60 bài, phóng sự, phóng sự ngắn về cải cách hành chính (Phát sóng bằng 3 thứ tiếng và dịch sang các bản tin tiếng Thái và tiếng Mông); Chủ tịch UBND tỉnh đã thường xuyên gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp, có chỉ đạo để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp,...
Với những kết quả nêu trên, xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính của tỉnh trong các năm 2017, 2018 đều trong nhóm 20 tỉnh đứng đầu cả nước (năm 2017 xếp vị trí thứ 19/63; năm 2018 xếp vị trí thứ 17/63); Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) trong nhóm điểm số cao, đạt 97,88%; Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tăng 01 bậc so với năm 2017; Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh năm 2018 nằm trong nhóm có điểm số trung bình cao.
Một số hạn chế, tồn tại
Bên cạnh kết quả đạt được, qua kiểm tra thực tế một số cơ quan, đơn vị, Đoàn Kiểm tra còn phát hiện một số tồn tại, hạn chế như: Sở Tài chính có kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 của Sở giảm điểm và giảm thứ hạng 2 bậc so với năm 2017; còn có nội dung tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai công tác tài chính công còn chậm, chẳng hạn chưa ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP của Chính phủ; còn có tình trạng thực hiện thủ tục tạm ứng, thủ tục thanh quyết toán một số công trình đã hoàn thành còn chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư và tiến độ xây dựng, đưa công trình vào vận hành,… Hay Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh còn một số thủ tục hành chính liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành chưa hoàn thiện quy trình liên thông và điện tử hóa nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện tại Trung tâm; một số lĩnh vực chưa thực hiện tốt việc công khai, cập nhật quy định thủ tục hành chính, còn công khai các quy định thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi hành (Ví dụ: một số thủ tục trong lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản); tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 còn thấp,…
Qua kết quả kiểm tra và báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình lưu ý một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục như sau:
Thứ nhất, công tác chỉ đạo, điều hành về cải cách hành chính ở một số cơ quan, đơn vị trong tỉnh chưa thật sự quyết liệt, hiệu quả chưa cao; việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính ở một số đơn vị còn hình thức, chưa đảm bảo các nội dung theo yêu cầu.
Thứ hai, trong công tác xây dựng thể chế, vẫn còn để xảy ra tình trạng văn bản do UBND cấp huyện, cấp xã ban hành còn sai về thẩm quyền.
Thứ ba, việc giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính cho người dân và tổ chức tại một số cơ quan, đơn vị còn trễ hẹn. Việc công khai tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính trên Cổng thông tin điện tử hoặc Cổng dịch vụ công của tỉnh còn chưa đầy đủ; công khai thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh và một số đơn vị cấp huyện còn chưa đầy đủ nội dung, chưa kịp thời theo quy định, còn có tình trạng công khai thủ tục đã hết hiệu lực thi hành. Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính xử lý trực tuyến ở mức độ 3, 4 trong toàn tỉnh còn thấp. Việc rà soát, cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính chưa thực sự gắn liền với đơn giản hóa trình tự, hồ sơ, giấy tờ, ứng dụng công nghệ thông tin và đánh giá năng lực thực hiện,…
Thứ tư, còn có trường hợp sai phạm trong thực thi công vụ của một số cán bộ, công chức của tỉnh nhưng chưa được phát hiện kịp thời để chấn chỉnh, xử lý.
Những hạn chế nêu trên là rào cản đối với sự phát triển của tỉnh Sơn La, là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực hiện của một số nội dung cải cách hành chính của Tỉnh còn thấp.
Nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới
Để phát huy những lợi thế, khắc phục khó khăn, thúc đẩy cải cách hành chính của tỉnh Sơn La trong thời gian tới, tại Thông báo số 269/TB-VPCP ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã đề nghị Lãnh đạo tỉnh Sơn La chỉ đạo tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
1. Tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phải phát huy được các tiềm năng, thế mạnh lớn của Sơn La trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thủy điện, kinh tế lâm nghiệp và du lịch; gắn kết chặt chẽ công tác cải cách hành chính với thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và công tác cải cách hành chính của bộ, ngành để đảm bảo tính hiệu quả và đồng bộ, thống nhất trong cải cách hành chính của từng ngành, lĩnh vực, góp phần “sớm xây dựng Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và miền núi phía bắc”.
2. Gắn cải cách hành chính với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30 tháng 10 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ và thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.
3. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu; tạo chuyển biến nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và bộ máy công quyền, làm cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thấm nhuần lời dạy và tư tưởng của Bác Hồ là “công bộc của dân”, phải “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, liêm, chính, kiệm, cần”; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tại Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020.
4. Nâng cao chất lượng tham mưu xây dựng, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn toàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, sửa đổi, bổ sung những văn bản sai thẩm quyền, có dấu hiệu trái pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương.
5. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là tiếp tục kịp thời tháo gỡ các rào cản để thúc đẩy nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu nông sản,..., trong đó tập trung tổng kết, đánh giá, nhân rộng kết quả triển khai thí điểm các sáng kiến cải cách; kiểm soát chặt chẽ quy định thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, hạn chế tối đa việc giải quyết quá hạn, không để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, đảm bảo đúng nguyên tắc “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ” theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ.
6. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và gắn kết chặt với chính sách tinh giản biên chế trên cơ sở triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền giải quyết công việc gắn quyền hạn với trách nhiệm trong công tác tổ chức bộ máy và cán bộ theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
7. Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.
8. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác cán bộ của tỉnh thời gian vừa qua. Thực hiện nghiêm quy định của Chính phủ về đánh giá công chức, viên chức, bảo đảm khách quan, trung thực.
9. Tổ chức triển khai xây dựng Chính quyền điện tử phải gắn kết chặt chẽ với cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính nhằm tăng cường tính hiệu quả, bền vững. Trước mắt, tiếp tục triển khai có hiệu quả việc gửi nhận văn bản điện tử theo quy định tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg; rà soát lại việc tổ chức dịch vụ công trực tuyến hiện nay, kết hợp với việc rà soát thủ tục hành chính, từ đó xây dựng lộ trình, giải pháp triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 hiệu quả, tiết kiệm; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến 2025 được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2019.
10. Tăng cường công tác theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện cải cách hành chính của các cơ quan, đơn vị; sử dụng hiệu quả Chỉ số cải cách hành chính trong theo dõi, đánh giá; triển khai việc khảo sát, đo lường mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, tạo sự đồng thuận của người dân, xã hội đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính./.
NHH, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính