Nan giải nợ xây dựng cơ bản

12/07/2017

Nợ đọng vốn ngân sách nhà nước đang là vấn đề nan giải, khiến nhiều doanh nghiệp lao đao. Nợ đọng không chỉ ở các dự án gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ mà ở tất cả các dự án thuộc các nguồn vốn, ở các loại gói thầu như tư vấn, xây lắp, mua sắm hàng hóa, vật tư…

Doanh nghiệp lao đao
Theo Vụ trưởng Vụ Kinh tế xây dựng, Bộ Xây dựng Phạm Văn Khánh, tới đây, Bộ sẽ sửa đổi Nghị định 37/2015 trình Chính phủ thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường, đáp ứng thông lệ quốc tế, bảo đảm nguyên tắc tính đúng, tính đủ cho các nhà thầu.

Hiện chưa có số thống kê chính thức về nợ đọng xây dựng cơ bản của cả nước được công bố, nhưng theo UBTVQH, tính đến hết kế hoạch năm 2016, tổng số nợ đọng xây dựng cơ bản vốn ngân sách trung ương là 9.557,6 tỷ đồng. Trong khi đó, theo TS Dương Văn Cận, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội các Nhà thầu Việt Nam VACC, nợ đọng đến nay ước tính khoảng 30.000 - 40.000 tỷ đồng. Thời gian nợ dài, ngắn cũng khác nhau, trong đó có dự án, gói thầu kéo dài tới 10 - 12 năm. Có gói thầu của một doanh nghiệp nhỏ chỉ thi công trong 3 năm, khoản nợ đã lên tới cả trăm tỷ đồng chiếm 10% giá gói thầu, mặc dù dự án đã quyết toán nhưng nhà thầu vẫn chưa được thanh toán.
Đáng nói là nhiều doanh nghiệp vốn chỉ khoảng 200 - 300 tỷ đồng nhưng nợ đọng tiền xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước lên đến hơn 2.000 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp phải “còng lưng” gánh lãi ngân hàng, không biết sẽ thu hồi nợ ra sao. Đơn cử như đối với Tổng công ty xây dựng Trường Sơn, tính đến 31.5.2017, chủ đầu tư còn nợ hơn 1.653 tỷ đồng, giá trị sản xuất dở dang còn chưa nghiệm thu là 991 tỷ đồng, tổng số nợ tồn đọng lên tới 2.644 tỷ đồng. Đặc biệt, nhiều công trình chủ đầu tư không bố trí nổi vốn như dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, dự án mở rộng quốc lộ 1A, chương trình rà phá bom mìn 504. “Hệ quả là để bảo đảm vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng với lượng vay bình quân cao khoảng 1.500 tỷ đồng, tức là hàng năm phải trả lãi 126 tỷ đồng, chưa kể các khoản thuế khác phải nộp” - Ông Đào Văn Tấn, đại diện Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn chia sẻ.
Các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía nhà thầu do tìm hiểu năng lực tài chính chủ đầu tư không kỹ trước khi ký kết hợp đồng; năng lực của nhà thầu trong công tác đàm phán, ký kết hợp đồng với chủ đầu tư; năng lực trong việc quản lý và triển khai hồ sơ thanh toán, quyết toán trong quá trình thi công vẫn còn yếu; chưa có biện pháp thu hồi nợ hiệu quả. Mặt khác, nhiều chủ đầu tư không có nguồn tài chính bảo đảm, xuất phát từ vốn ban đầu ít nên ngân hàng không bảo lãnh. Cũng có trường hợp chủ đầu tư có đủ năng lực tài chính nhưng cố tình kéo dài thời gian không trả tiền nợ cho nhà thầu, thậm chí tìm mọi cách để trì hoãn hay gây khó khăn trong hồ sơ thanh toán và quyết toán cho nhà thầu.
 

Tính đến hết năm 2016, tổng số nợ đọng xây dựng cơ bản vốn ngân sách Trung ương là 9.557,6 tỷ đồng


Nhiều khoảng trống pháp lý
Theo TS. Dương Văn Cận, pháp luật dường như đang “nương nhẹ” cho chủ đầu tư và chưa có chế tài đủ mạnh để buộc chủ đầu tư thực hiện đúng, đặc biệt trong khâu lập dự án và tổ chức đấu thầu. Mặc dù Luật Đấu thầu quy định điều kiện để tổ chức đấu thầu là chủ đầu tư phải có nguồn vốn, tuy nhiên nguồn vốn đó như thế nào, có thật không hay chỉ ghi trên giấy tờ; dự án có nằm trong kế hoạch vốn trung hạn hay không? Những quy định đó vẫn chưa có chế tài để kiểm soát. Trong khi đó, theo Luật Xây dựng 2014, khi thẩm định tính khả thi của dự án lại không có hướng dẫn quy định bắt buộc thẩm định nguồn vốn cho dự án. Mặt khác, Nghị định 37/2015 quy định về nội dung chi tiết hợp đồng xây dựng có xác định, chủ đầu tư phải thực hiện thanh toán các khoản lãi vay do chậm thanh toán theo hợp đồng. Tức là trong thời hạn không quá 56 ngày kể từ ngày có đủ hồ sơ thanh toán theo quy định mà chủ đầu tư không thực hiện thanh toán thì nhà thầu có quyền chấm dứt hợp đồng. Song, Nghị định lại không quy định về chế tài để nhà thầu có cơ sở đòi khoản tiền từ chủ đầu tư trong trường hợp có vi phạm. Đó là chưa kể, pháp luật hiện hành mới quy định thời hạn quyết toán vốn đầu tư chứ chưa có quy định cụ thể yêu cầu chủ đầu tư thực hiện việc quyết toán hợp đồng và thanh toán chi phí giữ lại chờ quyết toán. Hiện tại các nội dung này đều được quy định theo hình thức chủ đầu tư và nhà thầu tự thương thảo. “Không chủ đầu tư nào chịu đưa ra các ràng buộc này vào hợp đồng, điều này gây nhiều bất lợi cho nhà thầu” - Tổng giám đốc VINAINCON Hoàng Chí Cường nhận định.

Với các hợp đồng thi công dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước hoặc nhà nước bảo lãnh vay vốn thì các nhà thầu thi công bao giờ cũng bị giữ lại một khoản tiền nhất định (3-5% tùy công trình) chờ kết thúc thời hạn bảo hành của nhà thầu, đồng thời chờ cơ quan thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư. Nhà thầu chỉ được giải ngân giá trị này sau khi quyết toán vốn đầu tư. Thế nhưng, khi hết thời gian đó, chủ đầu tư vẫn không thanh toán được cho nhà thầu trong khi mức thanh toán cho khâu bảo hành này không phải là ít, nhiều khi xấp xỉ tiền lãi của gói thầu. Đáng tiếc, pháp luật hiện hành vẫn chưa có chế tài “siết” chủ đầu tư, thành thử nhà thầu vẫn “yếu thế”.

Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc thanh toán, quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu, tránh nợ đọng trong xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp cho rằng, pháp luật về đầu tư xây dựng như Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các luật có liên quan khác cần phải có quy định bắt buộc chủ đầu tư phải có ngân hàng bảo lãnh vốn theo kế hoạch vốn của dự án, để chi trả cho nhà thầu theo hợp đồng đã ký kết như việc chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu phải có bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Hoặc khi công trình, hạng mục hoàn thành được nghiệm thu theo quy định, chủ đầu tư phải chuyển kinh phí bảo hành của nhà thầu qua ngân hàng thành một khoản riêng. Khi nhà thầu hoàn thành nghĩa vụ bảo hành theo quy định và nhận được thông báo hoàn thành công tác bảo hành thì ngân hàng chuyển trả kinh phí này cho nhà thầu. 

Thảo Mộc
Theo daibieunhandan.vn