Sửa Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Bài 1: Nhiều quy định thiếu đồng bộ

23/11/2018

Năm 2006, Quốc hội Khóa XI đã thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế khiến việc thi hành trong thực tiễn gặp vướng mắc, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp và công tác quản lý của nhà nước.

Nhiều kẽ hở
Đánh giá việc thực thi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, bên cạnh những mặt tích cực, trong quá trình tổ chức thực hiện, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, khiến việc thi hành trong thực tiễn gặp vướng mắc, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp và công tác quản lý của nhà nước như còn có xung đột với luật pháp nước tiếp nhận lao động, chưa điều chỉnh hết mọi đối tượng đi làm việc ở nước ngoài, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý tình trạng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp, một số quy định chưa rõ ràng khiến doanh nghiệp có thể “lách luật” cũng như có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn, xu thế vận động...
 

Đặc biệt, một số quy định của Luật không bảo đảm sự đồng bộ, sự phù hợp và không còn tương thích với nội dung của các luật mới được Quốc hội ban hành trong thời gian gần đây như: Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Phá sản 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Công đoàn năm 2012... Hơn nữa, Luật được xây dựng theo nguyên tắc và cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25.12.2001 của Quốc hội Khóa X. Tuy nhiên, ngày 28.11.2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 2013, theo đó, Luật này cần được rà soát nghiên cứu và sửa đổi cho phù hợp với Hiến pháp 2013 cũng như các bộ luật, luật đã được sửa đổi, bổ sung trong thời gian qua.

Yêu cầu tất yếu
Trên thực tế, với xu thế phát triển chung của xã hội cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thì hiện nay, việc di chuyển lao động của Việt Nam đã và đang theo hướng ngày càng đa dạng và hội nhập sâu với thế giới. Nhiều phương thức hợp tác, dịch chuyển lao động mới phát sinh mà khi xây dựng Luật năm 2006 vẫn chưa xuất hiện, nên khi xây dựng các quy định trong Luật để thực hiện quản lý đối với các hình thức đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng đã không được tính đến, dẫn đến tình trạng một số phương thức mới phát sinh sau này, không phù hợp để áp dụng các điều kiện quản lý quy định tại Luật. Đơn cử như các hình thức dịch chuyển lao động theo hình thức cá nhân như hoạt động dịch chuyển lao động vùng biên giữa Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Trung Quốc… lao động xuất cảnh hợp pháp theo các mục đích không phải lao động, sau đó ở lại tìm việc làm để cư trú và làm việc hợp pháp (Macao, Australia, New Zealand)…; hình thức thỏa thuận gửi và tiếp nhận lao động giữa các địa phương của Việt Nam với địa phương nước nhận lao động (Hàn Quốc, Trung Quốc).

Bên cạnh đó, điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn chưa chặt chẽ (không quy định doanh nghiệp phải có cán bộ, cơ sở vật chất mà chỉ quy định ở dạng phương án; doanh nghiệp chỉ phải hoàn thiện các điều kiện này sau khi được cấp giấy phép), điều kiện về tài chính còn tương đối dễ dàng (vốn, ký quỹ), điều kiện về người lãnh đạo điều hành còn tương đối mở và không hoàn toàn phù hợp; thuật ngữ vốn pháp định hiện không còn trong quy định của Luật Doanh nghiệp nên gây khó khăn khi xác định. Một số quy định về điều kiện cấp phép được quy định tại Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, điều này không phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Từ những hạn chế trên, theo nhận định các chuyên gia việc sửa đổi luật năm 2006 là tất yếu, nhằm  tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi và động lực cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và doanh nghiệp tham gia cung ứng lao động sang các thị trường nước ngoài, bảo đảm mọi lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đều được điều chỉnh trong Luật.
 
Theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2014 đến năm 2016, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài là xấp xỉ 350.000 người. Riêng trong năm 2016, có trên 126.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong đó, Đài Loan (Trung Quốc) trên 68.000 lao động; Nhật Bản gần 40.000; Hàn Quốc trên 8.000 và Ả rập Xê út có trên 4.000 lao động. Tính đến hết tháng 12.2016, toàn quốc có 277 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 15 doanh nghiệp nhà nước, 207 công ty cổ phần và 55 công ty TNHH). Hàng năm, số tiền người lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước khoảng 1,6 - 2 tỷ USD.
 
 

Theo Thái Yến/daibieunhandan.vn