Dư địa cải cách tại Luật Doanh nghiệp

18/09/2019

Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015 là một đạo luật đánh dấu sự quyết tâm cải cách pháp luật đối với doanh nghiệp của Nhà nước ta, Luật này đã có nhiều cải cách quan trọng trong thành lập và hoạt động doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn 04 năm triển khai Luật cho thấy vẫn còn dư địa cải cách

 
Ảnh minh họa – Nguồn: Internet

 

Đứng trên góc độ thực trạng thực thi quy định tại Luật Doanh nghiệp cho thấy vẫn còn tồn tại một số vướng mắc như sau:
Quy định của Luật về việc áp dụng luật chuyên ngành liên quan đến thủ tục thành lập doanh nghiệp (như Luật đấu giá, Luật Luật sư, Luật Chứng khoán,…) dẫn đến phân tán đầu mối đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Một số TTHC về đăng ký doanh nghiệp không còn phù hợp, không cần thiết, tạo gánh nặng chi phí, thời gian cho doanh nghiệp.
Một số quy định chưa rõ ràng, không tương thích với sự thay đổi pháp luật có liên quan, không còn phù hợp với thực tiễn mới phát sinh.
Một số quy định chưa thật sự tạo thuận lợi cho cổ đông bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Địa vị pháp lý của hộ kinh doanh còn thiếu rõ ràng do không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật. Điều này đã làm hạn chế đáng kể khả năng huy động nguồn lực đầu tư của mô hình kinh doanh này.
Có thể thấy, Luật Doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục được sửa đổi theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động thành lập doanh nghiệp; cắt giảm chi phí, thời gian khởi sự kinh doanh và TTHC trong hoạt động đầu tư kinh doanh; mở rộng, nâng cao quyền tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư kinh doanh và quản lý doanh nghiệp; bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông, thành viên của doanh nghiệp phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Phương hướng sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp
Thứ nhất, các nội dung về đăng ký doanh nghiệp
Bổ sung hộ kinh doanh vào đối tượng điều chỉnh của Luật, sửa đổi Điều 3 của Luật để áp dụng thống nhất trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp. Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó, trừ thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Bãi bỏ một số thủ tục không còn cần thiết trong đăng ký doanh nghiệp như: thông báo mẫu con dấu; thông báo điều chỉnh, thay đổi mẫu con dấu; báo cáo thay đổi thông tin người quản lý doanh nghiệp; gửi thông tin cho cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính khi thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh mới.
Bãi bỏ yêu cầu phải nộp Điều lệ doanh nghiệp khi đăng ký thành lập công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Sửa đổi quy định thời hạn góp vốn không bao gồm thời gian nhập khẩu, thực hiện thủ tục trong trường hợp người thành lập doanh nghiệp, cổ đông góp vốn bằng tài sản.
Quy định rõ trường hợp doanh nghiệp có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty phải quy định phạm vi trách nhiệm của từng người đại diện theo pháp luật nhằm tránh rủi ro cho các bên khi thực hiện giao dịch với doanh nghiệp.
Thứ hai, các quy định liên quan đến công ty trách nhiệm hữu hạn
Mở rộng phạm vi, diễn giải rõ hơn quy định về người có liên quan với thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty nhằm đảm bảo dễ áp dụng và áp dụng thống nhất trên thực tế.
Sửa đổi quy định từ bắt buộc thành lập Ban kiểm soát sang cơ chế giao quyền cho chủ sở hữu quyết định và lựa chọn cơ chế giám sát, phù hợp với trường hợp cụ thể của doanh nghiệp.
Thứ ba, các quy định liên quan đến công ty cổ phần
Bổ sung quy định nêu rõ đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức mà Chính phủ chỉ định nắm giữ thì không có hạn chế về thời hạn và không hạn chế số lượng tối đa quyền biểu quyết tương ứng.
Bổ sung quy định về Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết. Đồng thời, bổ sung về quyền biểu quyết đối với cổ phần phổ thông đã được lưu ký để phát hành Chứng chỉ ký quỹ không có quyền biểu quyết.
Bãi bỏ nội dung hạn chế về thời hạn tối thiểu sở hữu cổ phần đối với cổ đông để có thể thực hiện một số quyền nhất định, ví dụ như: giới thiệu ứng cử viên Hội đồng quản trị, xem xét, trích lục thông tin của công ty,…
Quy định rõ trách nhiệm của cổ đông trong việc bảo mật các thông tin mà cổ đông có quyền được xem xét, tra cứu, trích lục từ công ty.
Thay cụm từ “Ban kiểm toán nội bộ thuộc Hội đồng quản trị” thành “Ủy ban kiểm toán thuộc Hội đồng quản trị” để phù hợp với thuật ngữ trên thực tế các công ty hiện đang sử dụng; phân biệt rõ ràng hơn với Ban kiểm toán nội bộ thuộc công ty.
Sửa đổi cách diễn đạt để thống nhất cách hiểu đúng và chính xác về thời điểm phải lập danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông: Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty; danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập không quá 05 ngày trước ngày gửi giấy mời họp Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn dài hơn.
Sửa đổi quy định bảo đảm cho cổ đông lựa chọn việc ủy quyền tốt nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Quy định rõ về bầu dồn phiếu là một chế định bầu thành viên Hội đồng quản trị đặc biệt, tách bạch với cơ chế thông qua Nghị quyết khác.
Quy định, giải thích rõ hơn điều kiện về thời gian làm việc đối với thành viên Hội đồng quản trị độc lập, trong trường hợp người này thực hiện 2 nhiệm kỳ liên tiếp.
Sửa đổi quy định về thù lao, tiền lương và lợi ích khác của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc theo hướng mở rộng quyền cổ đông, hạn chế Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc lạm dụng quyền hạn của mình cho lợi ích cá nhân. Cụ thể là thù lao, tiền lương của các đối tượng này được tính vào chi phí kinh doanh của công ty và phải được thể hiện thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của công ty, phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua tại cuộc họp thường niên.
Sửa đổi, làm rõ khái niệm “chuyên trách” đối với Trưởng ban kiểm soát là không đồng thời đảm nhiệm công việc khác tại công ty; sửa đổi quy định Trưởng ban kiểm soát “phải là kiểm toán hoặc kế toán viên chuyên nghiệp” thành “có trình độ chuyên môn tương đương kiểm toán viên hoặc kế toán viên”.
Bãi bỏ quy định “Công ty không thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành, không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đó sẽ không được quyền phát hành trái phiếu, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác” để đảm bảo việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp tương thích giữa các quy định hiện hành (điều kiện, trình tự, thủ tục của hoạt động này đã được quy định chi tiết tại Luật Chứng khoán, Nghị định 163/2018/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp)
Bỏ quy định Thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông phải được gửi kèm theo Mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp và quy định rõ ràng theo hướng văn bản ủy quyền được lập theo quy định của Luật dân sự và phải nêu rõ tên người và số lượng cổ phần được ủy quyền.
Thứ tư, quy định về công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Bổ sung quy định về thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ trong một số trường hợp đặc biệt như: chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, bị tạm giam, kết án tù, bị tước quyền hành nghề, … đối với thành viên hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân.
Thứ năm, bổ sung quy định về hộ kinh doanh
Theo quy định hiện hành, hộ kinh doanh cũng là một hình thức kinh doanh nhưng lại không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, Hộ kinh doanh lại được áp dụng quy định về đăng ký thành lập theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP là Nghị định hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp. Do đó, việc pháp lý hóa là cần thiết.
Theo đó, cần thừa nhận sự tồn tại của ‘hộ kinh doanh’ với vai trò và vị trí quan trọng; phù hợp với hoạt động kinh doanh nhỏ, siêu nhỏ, đơn giản, nhanh nhạy; tạo điều kiện gia đình có cơ hội kinh doanh nâng cao đời sống.
Không ép buộc hành chính hộ kinh doanh phải chuyển thành doanh nghiệp hoặc xóa bỏ hình thức hộ kinh doanh; thừa nhận hộ kinh doanh chính là cá nhân kinh doanh tồn tại song song cùng với các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã; góp phần đa dạng hóa hình thức kinh doanh, trao thêm quyền cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp. Xóa bỏ tất cả các hạn chế đối với hộ kinh doanh, như chỉ được đăng ký một địa điểm kinh doanh, chỉ được sử dụng dưới 10 lao động…
Thứ sáu, quy định về doanh nghiệp nhà nước
Bổ sung quy định về doanh nghiệp nhà nước theo hướng quy định rõ doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, bao gồm: Các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; và các doanh nghiệp có cổ phần, phần vốn góp chi phối của Nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì áp dụng quy định đặc thù về tổ chức quản lý. Đối với doanh nghiệp có cổ phần, phần vốn góp chi phối của Nhà nước thì tùy vào hình thức pháp lý sẽ áp dụng quy định về tổ chức quản lý tương ứng áp dụng chung cho các doanh nghiệp.
Đối với quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn có phần vốn góp chi phối của Nhà nước, hoàn thiện các quy định về phải thành lập Ban kiểm soát, bổ sung điều kiện tiêu chuẩn, điều kiện giám đốc – điều kiện chuyên môn, kinh nghiệm, mở rộng đối tượng người có liên quan không được làm giám đốc bao gồm: anh, em chồng, con rể, con dâu; quy định rõ hơn về chấp thuận hợp đồng giao dịch với người có liên quan; bổ sung quy định về minh bạch hóa, công khai hóa thông tin.
Đối với công ty cổ phần có cổ phần chi phối của nhà nước, hoàn thiện các nội dung như: quy định rõ về cổ phần ưu đãi biểu quyết (cổ phần “vàng” của Nhà nước – không giới hạn về thời gian và mức độ biểu quyết ưu đãi); bổ sung quy định về Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết; bổ sung điều kiện tiêu chuẩn, điều kiện thành viên hội đồng quản trị, giám đốc – điều kiện chuyên môn, kinh nghiệm, đối tượng người có liên quan không được làm giám đốc; bổ sung yêu cầu về tiêu chuẩn, điều kiện đối với kiểm soát viên.
Thứ bảy, quy định về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp
Sửa đổi quy định về chia, tách doanh nghiệp theo hướng cho phép doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn phương thức chia, tách doanh nghiệp theo quyết định của chính doanh nghiệp thay cho áp dụng hạn chế các phương thức cụ thể như quy định hiện hành.
Sửa đổi quy định về hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp theo hướng bãi bỏ các quy định chi tiết về yêu cầu thông báo việc hợp nhất, sáp nhập cho cơ quan cạnh tranh vì không còn tương thích với Luật Cạnh tranh năm 2018; chỉ giữ lại yêu cầu các doanh nghiệp phải tuân thủ Luật Cạnh tranh trước khi đăng ký lại các doanh nghiệp được hợp nhất, sáp nhập.
Cho phép doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi trực tiếp thành công ty cổ phần thay vì chỉ được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn như quy định hiện hành.
Bổ sung quy định tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Hiện nay, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam mới ở mức trung bình khá trên bình diện quốc tế (xếp thứ 69/190), trong khu vực ASEAN Việt Nam đứng thứ 5, chưa vào nhóm 04 nước dẫn đầu. Nếu các phương án sửa đổi Luật Doanh nghiệp nêu trên được thực hiện, hứa hẹn sẽ góp phần tăng xếp hạng Chỉ số khởi sự kinh doanh nói riêng và xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam nói chung trong thời gian tới./.
Tâm Vũ
Cục Kiểm soát TTHC