Vướng mắc trong quy định tại Luật Đầu tư và giải pháp tháo gỡ

18/09/2019

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 đã góp phần xóa bỏ rào cản về đầu tư, kinh doanh không phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Tuy nhiên, thực tiễn 04 năm thi hành Luật cho thấy vẫn còn một số vướng mắc cần tiếp tục được tháo gỡ.

Ảnh minh họa – Nguồn: Internet
 

Tồn tại, vướng mắc
Một số quy định của Luật Đầu tư còn thiếu tính khả thi, minh bạch và hiệu quả, cụ thể: Quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện còn một số nội dung chưa đầy đủ, dẫn đến cách hiểu không thống nhất trong quá trình thực hiện; chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ việc đề xuất sửa đổi, bổ sung ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện để bảo đảm tuân thủ nguyên tắc quy định tại Khoản 1 và 3 Điều 7 của Luật.
Luật Đầu tư và một số luật có liên quan chưa có công cụ cần thiết để sàng lọc, thu hút nhà đầu tư thật sự có năng lực để thực hiện các dự án đầu tư chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sử dụng hiệu quả các nguồn lực về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lao động, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường và ngăn chặn tình trạng chuyển giá, trốn thuế.
Các lĩnh vực, ngành, nghề ưu đãi đầu tư còn dàn trải, thiếu tính chọn lọc. Một số tiêu chí, điều kiện và hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư thiếu tính linh hoạt, chậm được đổi mới để đáp ứng yêu cầu thu hút các nguồn vốn đầu tư có chất lượng cao, khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo, chuyển giao công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy liên kết ngành, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, địa bàn ưu đãi đầu tư tiếp tục dàn trải do chưa có tiêu chí xác định cụ thể; chưa có sự phân biệt ưu đãi giữa ngành sản xuất với các hoạt động thương mại, dịch vụ và giữa các ngành, nghề đầu tư khác nhau trong các Khu kinh tế; chưa có cơ chế phù hợp để thu hút các tập đoàn đa quốc gia, các tập đoàn lớn nắm giữ công nghệ nguồn,…
Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, môi trường chưa được quy định thống nhất, đồng bộ giữa Luật Đầu tư và các Luật có liên quan đã dẫn đến sự trùng lặp, chồng chéo về mục tiêu, nội dung quản lý, cơ quan thẩm định, phê duyệt, đồng thời không có sự kế thừa, công nhận kết quả của nhau.
Luật chưa quy định cụ thể về khái niệm, mục đích, giá trị pháp lý, phạm vi áp dụng thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời chưa phân định rõ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư với thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo quy định tương ứng của Luật Đất đai và Luật Đấu thầu. Luật cũng chưa có quy định hợp lý về phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư phù hợp với yêu cầu cải cách TTHC trong hoạt động đầu tư kinh doanh.
 Quy định của Luật về thủ tục góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài và thủ tục triển khai dự án đầu tư (như điều chỉnh, tạm ngừng, giãn tiến độ, chấm dứt dự án đầu tư,…) còn một số nội dung thiếu cụ thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất trong quá trình thực hiện.
Luật cũng chưa quy định cụ thể, minh bạch các lĩnh vực, ngành, nghề khuyến khích, cấm, hạn chế đầu tư ra nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài có điều kiện; các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thực hiện dự án đầu tư ở nước ngoài còn một số nội dung chưa rõ ràng, dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Quy trình thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại Luật còn chưa đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong quy định về thời hạn thực hiện mỗi bước.
Quy định về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và thủ tục đánh giá tác động môi trường còn chưa thống nhất giữa Luật Đầu tư và Luật Bảo vệ môi trường.
Yêu cầu báo cáo về tình hình thực hiện dự án đầu tư tần suất còn tương đối dày đối với nhà đầu tư, cụ thể hiện nay theo quy định là hàng tháng nhà đầu tư phải thực hiện báo cáo gửi cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư.
Phương hướng sửa đổi
Hoàn thiện quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh, đồng thời cắt giảm một số ngành, nghề không cần thiết, bất hợp lý nhằm tiếp tục bảo đảm thực hiện đầy đủ, nhất quán quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà Luật không cấm hoặc quy định phải có điều kiện.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh nhằm thu hút đầu tư có chọn lọc, chất lượng, bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Thứ nhất, quy định rõ về phạm vi điều chỉnh, các khái niệm, chính sách đầu tư kinh doanh, cụ thể:
Sửa đổi phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư với các Luật có liên quan. Theo đó, hoạt động đầu tư kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này gồm: (i) hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP; (ii) việc sử dụng vốn nhà nước, tài sản công, vốn của doanh nghiệp nhà nước để thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh; việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước.
Sửa đổi, bổ sung các khái niệm về “chấp thuận chủ trương đầu tư”, “đầu tư kinh doanh”, “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”, “điều kiện đầu tư kinh doanh”, “điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài”, “vốn đầu tư”.
Bổ sung cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp cần thiết (như từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, đình chỉ hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư…) trong trường hợp các hoạt động này gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến an ninh, quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng và môi trường.
Thứ hai, đối với quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Bổ sung ngành “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” vào Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với dịch vụ này, hạn chế tình trạng một số cá nhân, tổ chức lợi dụng hoạt động đòi nợ thuê gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.
Bãi bỏ 17 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời sửa đổi 6 ngành, nghề và bổ sung 3 ngành, nghề để phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước và đảm bảo tính thống nhất với các luật có liên quan.
Việc cắt giảm các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện dựa trên cơ sở 04 tiêu chí: (i) Bãi bỏ ngành, nghề không liên quan trực tiếp hoặc không chứng minh được có ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; (ii) Bãi bỏ ngành, nghề đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn; (iii) Bãi bỏ ngành, nghề mà chất lượng đầu ra của ngành nghề đó do thị trường, khách hàng lựa chọn, sáng lọc và quyết định; (iv) Bãi bỏ ngành nghề cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích có thể lựa chọn, kiểm saots thông qua đấu thầu, đặt hàng của Nhà nước.
Bổ sung một số quy định về hình thức áp dụng, nội dung điều kiện đầu tư kinh doanh cũng như các nguyên tắc, điều kiện, thủ tục đề xuất ban hành, sửa đổi, bổ sung Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Thứ ba, nhóm các quy định về ngành, nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư
Dự kiến bổ sung một số ngành, nghề hoạt đồng gồm: hoạt động nghiên cứu và phát triển; sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học; hoạt động đổi mới sáng tạo; sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tạo ra hoặc tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành.
Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện chính sách này như: Áp dụng ưu đãi có thời hạn, theo giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ; nhà đầu tư phải bảo đảm đáp ứng điều kiện ưu đãi trong thời gian được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật;…
Bỏ dự án nhà ở thương mại ra khỏi đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư; bổ sung giáo dục đại học vào danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư.
Bổ sung điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên. Bổ sung cơ chế cho phép Thủ tướng Chính phủ quyết định mức ưu đãi cao hơn để khuyến khích phát triển một ngành, địa bàn đặc biệt hoặc dự án đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến kinh tế - xã hội. Theo đó, đối với các loại dự án này, Thủ tướng quyết định áp dụng mức ưu đãi đầu tư cao hơn mức ưu đãi theo quy định của pháp luật nhưng không quá 50% mức ưu đãi cao nhất.
Thứ tư, các quy định về thẩm quyền, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư
Bổ sung quy định để làm rõ nguyên tắc, điều kiện áp dụng từng hình thức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất, gồm: Đấu giá quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai; đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo pháp luật đấu thầu; chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư. Hình thức chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư chỉ được áp dụng trong trường hợp không đáp ứng điều kiện tổ chức đấu giá, đấu thầu.
Đơn giản hóa thủ tục đầu tư đối với các dự án phù hợp với quy hoạch và thuộc Danh mục dự án được phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
Thu hẹp phạm vi dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư; áp dụng thống nhất thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư đối với các dự án xây dựng nhà ở và đô thị để tránh trùng lặp về thẩm quyền, thủ tục quyết định/chấp thuận đàu tư dự án nhà ở, đô thị.
Bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng để thực hiện dự án đầu tư. Theo đó, đối với các dự án này, UBND cấp huyện xem xét điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo thẩm quyền, điều kiện, thủ tục phù hợp với quy định của Luật Đất đai.
Sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng: Không yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp sagns tạo và quỹ khởi nghiệp sáng tạo nhằm áp dụng thủ tục thuận lợi, đơn giản nhất phù hợp với những yêu cầu đặc thù trong hoạt động mô hình kinh doanh mới đầu tư dựa trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ,…
Bổ sung quy định về điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài (gồm các điều kiện: không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; bảo đảm phù hợp với quy hoạch; đáp ứng các tiêu chí, định mức về sử dụng đất đai, lao động…)
Bãi bỏ thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong trường hợp việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp không làm tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp.
Phân định rõ điều kiện, thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật Đầu tư và điều kiện, thủ tục góp vốn, mua, bán cổ phần của công ty đại chúng; tỷ lệ sử hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty đại chúng theo Luật Chứng khoán.
Tuy nhiên, còn vướng mắc giữa thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và thủ tục đánh giá tác động môi trường chưa thể tháo gỡ tại Luật Đầu tư, mà việc khắc phục vướng mắc này cần thực hiện khi Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung.
Thứ năm, quy định về thủ tục triển khai thực hiện dự án đầu tư
Bỏ quy định về giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư để thực hiện thống nhất thủ tục điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và bảo đảm tính đồng bộ với quy định tại Luật Đất đai.
Bổ sung biện pháp bảo lãnh nghĩa vụ thực hiện dự án đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhằm tháo gỡ khó khăn, mở rộng, đa dạng hóa các hình thức bảo đảm thực hiện dự án đầu tư.
Hoàn thiện các quy định về căn cứ chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, trình tự thanh lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất theo hướng thống nhất với quy định của Luật Đất đai.
Bổ sung quy định về giám định vốn đầu tư trong trường hợp cần thiết để xác định căn cứ tính thuế, chống chuyển giá.
Bổ sung quy định về gia hạn thực hiện dự án đầu tư. Theo đó, khi hết thời hạn thực hiện dự án mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án và đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét gia hạn thực hiện hoạt động của dự án đầu tư nhưng không quá thời hạn tối đa theo quy định của Luật Đầu tư, trừ các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên. Đồng thời, bỏ yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện báo cáo tháng.
Thứ sáu, các quy định về đầu tư ra nước ngoài
Bổ sung quy định về ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài, gồm các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 của Luật; ngành nghề có công nghệ, sản phẩm thuộc đối tượng cấm xuất khẩu và ngành, nghề bị cấm đầu tư ra nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bổ sung quy định về ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, gồm các ngành: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, khoa học và công nghệ, báo chí, phát thanh, truyền hình, kinh doanh bất động sản.
Nếu các phương án sửa đổi Luật Đầu tư trên được thực hiện, hứa hẹn sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự phát triển của các doanh nghiệp, nhà đầu tư đầu tư tại Việt Nam. Đồng thời, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, công bằng và nâng cao vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng Năng lực cạnh tranh quốc tế.
Tâm Vũ
Cục Kiểm soát TTHC