Một số kết quả thực hiện Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 6 tháng đầu năm 2022

22/07/2022

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bày tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương ngày 04/7/2022, thứ hạng của Việt Nam trên một số bảng xếp hạng quốc tế năm 2022 tiếp tục được cải thiện, một số lĩnh vực cụ thể tiếp tục được quan tâm cải cách và đạt kết quả đáng ghi nhận.

Ảnh: Hội nghị Chính phủ với địa phương ngày 04/7/2022. Nguồn: baochinhphu.vn

 
Về xếp hạng trên các bảng xếp hạng quốc tế
Thứ nhất, về Trình độ phát triển thị trường (thể hiện qua chỉ số Tự do kinh tế), sau 25 năm kể từ khi Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall công bố chỉ số này (năm 1995) thì năm 2021 là năm đầu tiên Việt Nam vượt qua được mốc cuối bảng xếp hạng (đạt thứ 90), lên khỏi vị trí dưới thứ hạng 100. Năm 2022, chỉ số này tiếp tục cải thiện 6 bậc, lên vị trí thứ 84. Tuy vậy, điểm số (thể hiện chất lượng phát triển thị trường) năm 2022 giảm 1,1 điểm so với năm 2021 (từ 61,7 điểm xuống còn 60,6 điểm) với 08/12 chỉ số thành phần giảm điểm, 02/12 chỉ số giữ nguyên điểm số và chỉ 02/12 chỉ số tăng điểm. Đáng chú ý là, chỉ số thành phần Tự do kinh doanh tăng điểm mạnh với mức tăng 8,4 điểm (từ 65,2 lên 73,6 điểm). Kết quả này cho thấy nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh hướng tới nâng cao hiệu quả thị trường của Việt Nam được các tổ chức quốc tế ghi nhận.
Thứ hai, về Phát triển du lịch và lữ hành (qua xếp hạng chỉ số Phát triển du lịch và lữ hành[1] (TTDI) – 2021), theo công bố của Diễn đàn kinh tế thế giới (tháng 5/2022), thứ hạng của nước ta cải thiện 8 bậc so với năm 2019 (từ vị trí 60 lên vị trí 52) với mức độ cải thiện điểm số là 4,7%. Chỉ số này được thiết kế trên cơ sở phát triển chỉ số Cạnh tranh du lịch và lữ hành[2] (TTCI) được Diễn đàn kinh tế thế giới công bố trước đây. Cách tiếp cận mới giúp phản ánh vai trò của Du lịch và Lữ hành đối với phát triển kinh tế - xã hội mang tính bao trùm, bền vững và có khả năng phục hồi[3]. Việt Nam được Diễn đàn kinh tế thế giới đánh giá là nền kinh tế dẫn đầu về mức độ cải thiện hiệu quả chỉ số này.
Thứ ba, về cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Moody’s, S&P và Fitch, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 về Đề án cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đến năm 2030. Kết quả đánh giá của các đoàn đánh giá thường niên xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Fitch, Moody’s và S&P đối với Việt Nam như sau: Được nâng triển vọng từ Tiêu cực lên Tích cực, mức xếp hạng Ba3 (theo xếp hạng của Moody’s tháng 3/2021); đạt mức xếp hạng BB, triển vọng Tích cực (theo xếp hạng của Fitch tháng 3/2022); nâng bậc xếp hạng lên BB+, triển vọng Ổn định (theo xếp hạng của S&P tháng 5/2022).
Nhìn chung, năng lực cạnh tranh của nước ta trên một số lĩnh vực đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận cải thiện tích cực. Một nhân tố quan trọng tác động tới kết quả này là mức độ hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh được nâng lên. Điều này phần nào phản ánh nỗ lực thực thi các nhiệm vụ và giải pháp của các Bộ, ngành, địa phương về cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn do dịch bệnh COVID-19.
Một số kết quả cải cách cụ thể
Thứ nhất, Tiếp cận điện năng là một trong những thủ tục được ghi nhận cải thiện thực chất và triển khai hiệu quả ở các địa phương. Thời gian giải quyết thủ tục tiếp cận điện năng đều rút ngắn hơn so với quy định. Ở nhiều địa phương, 100% dịch vụ điện được tiếp nhận và giải quyết qua các hình thức trực tuyến và thực hiện ký hồ sơ điện tử (ví dụ Quảng Nam,…).
Thứ hai, ngành Thuế tiếp tục nỗ lực cải cách TTHC thuế với việc mở rộng áp dụng các giao dịch điện tử, trong đó đáng chú ý là việc triển khai hóa đơn điện tử. Sau hơn 4 tháng triển khai thí điểm hóa đơn điện tử tại 6 tỉnh/thành phố (gồm Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bình Định, Phú Thọ, Hải Phòng), ngày 21 tháng 4 năm 2022, Bộ Tài chính đã tổ chức Lễ công bố hệ thống hóa đơn điện tử toàn quốc với lộ trình triển khai đối với 57 tỉnh, thành phố giai đoạn 2. Như vậy, cho đến nay, trên cả nước đã có 747.335 doanh nghiệp (đạt tỷ lệ 90,7%) và 50.603 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo phương pháp kê khai đã đăng ký và chuyển đổi sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP và Thông tư số 78/2021/TT-BTC.
Thứ ba, vcải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu
Thủ tục kiểm tra, chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ và xe máy chuyên dùng nhập khẩu được thực hiện trực tuyến cấp độ 4 trên Cổng thông tin một cửa quốc gia; đồng thời, dữ liệu đã được số hóa và chia sẻ để phục vụ thủ tục thuế trước bạ, đăng ký xe và kiểm định lưu hành.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã rà soát, sửa đổi các quy định về kiểm dịch động vật (trên cạn, thủy sản) tại các Thông tư số 25/2016/TT-BNNPTNT, 26/2016/TT-BNNPTNT, 35/2018/TT-BNNPTNT, 36/2018/TT-BNNPTNT theo hướng cắt giảm danh mục hàng hóa kiểm tra và áp dụng nguyên tắc về quản lý rủi ro dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và mức độ rủi ro của hàng hóa. Dự thảo Thông tư sửa đổi quy định không thực hiện kiểm dịch nhập khẩu đối với các mặt hàng gồm: sản phẩm thủy sản đã qua chế biến như hàng khô, đồ hộp, nấu chín, ăn liền, ngâm muối, xông khói; sản phẩm động vật thủy sản xuất khẩu bị triệu hồi, trả về; sản phẩm động vật thủy sản đông lạnh nhập khẩu làm nguyên liệu để gia công, chế biến xuất khẩu và các sản phẩm chế biến có chứa sữa, sản phẩm đã qua xử lý như lông thú, lông vũ... Những thay đổi này nếu được thông qua sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển, nhất là đối với ngành có lợi thế của nước ta như chế biến và xuất khẩu thủy sản.
Một số tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật hiện hành mặc dù đã được rà soát, sửa đổi nhưng nhiều văn bản vẫn chưa đảm bảo tính thống nhất, phù hợp và khả thi, vì thế đây là nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều chi phí không chính thức cho doanh nghiệp. Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, môi trường, tài nguyên,… dẫn đến khó khăn cho địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư cho doanh nghiệp.
Thứ hai, một số phản ánh kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp gửi tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vẫn còn chậm được trả lời, hoặc các biện pháp, giải pháp của Bộ, ngành, địa phương đưa ra chưa tháo gỡ được bất cập, vướng mắc cốt lõi của doanh nghiệp. Tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ vẫn còn xảy ra ở một số lĩnh vực, như: đất đai, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội.
Thứ ba, việc triển khai các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của các cơ quan chức năng còn thiếu tính thống nhất, thiếu hợp tác, thiếu tính liên kết và hiệu quả còn thấp. Việc doanh nghiệp tìm đến sự hỗ trợ và tư vấn pháp luật còn ít, nguyên nhân một phần là do chi phí, bên cạnh đó còn có nguyên nhân do năng lực của đội ngũ tư vấn chưa tốt, chưa giải quyết được vấn đề do doanh nghiệp đặt ra. Một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chưa đi vào cuộc sống.
Một số đề xuất, kiến nghị
Một là, các Bộ, ngành, địa phương cần triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nhiệm vụ được giao tại các Nghị quyết có liên quan của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động thực thi nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của quy định, chính sách; nhất là trong thực thi các quy định, thủ tục liên quan đến đầu tư, xây dựng, đất đai, điều kiện kinh doanh,... Kiên quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ trên mọi lĩnh vực; trong đó tạo cơ hội thuận lợi cho các dự án chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng,…; gắn cải cách thủ tục hành chính với xây dựng Chính phủ điện tử, triển khai thực chất dịch vụ công trực tuyến. Thúc đẩy triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tập trung các giải pháp tư vấn, đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp với các nội dung tái cấu trúc doanh nghiệp, tài chính, nhân sự, thị trường, quản trị rủi ro, chuyển đổi số, tham gia chuỗi giá trị bền vững. Thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi với người dân và doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt các phản hồi chính sách và giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác, tận dụng cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do.
Hai là, các Bộ, ngành cần nghiên cứu, đề xuất cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và tiếp tục đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh; không quy định thêm các điều kiện tạo rào cản cho đầu tư, kinh doanh khi ban hành văn bản pháp luật mới hay sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật hiện hành. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động tham vấn, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Ba là, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách về đăng ký đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai. Trong đó, tập trung hoàn thiện pháp luật về hệ thống thông tin đất đai, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để triển khai dịch vụ công trực tuyến cho các giao dịch về đất đai; triển khai mạnh mẽ việc kết nối liên thông điện tử để trao đổi thông tin dữ liệu đất đai giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế trong việc xác định nghĩa vụ tài chính khi người sử dụng đất thực hiện giao dịch về đất đai và tài sản gắn liền với đất; đề xuất ban hành cơ chế cụ thể và độc lập để người dân, doanh nghiệp có thể khiếu nại về vấn đề xảy ra tại cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan địa chính cũng như cơ quan đo đạc bản đồ.
Bốn là, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần tích cực tham gia phản biện, đóng góp chính sách. Chia sẻ và phản ánh các vấn đề, vướng mắc, khó khăn; đề xuất các kiến nghị liên quan đến chính sách và thực thi chính sách để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi, giảm chi phí và an toàn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Trà Lê, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
 

[1] Travel & Tourism Development Index – TTDI.
[2] Travel & Tourism Competitiveness Index – TTCI.
[3] Chỉ số Phát triển du lịch và lữ hành (TTDI) đo lường tập hợp các yếu tố và chính sách phát triển bền vững và linh hoạt của ngành du lịch và lữ hành, từ đó đóng góp vào sự phát triển của một quốc gia. Chỉ số này được thiết kế và phát triển từ chỉ số Năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành (TTCI) trong bối cảnh dịch COVID-19 tác động nặng nề tới ngành du lịch và lữ hành trên thế giới. Chỉ số TTDI gồm 112 chỉ số thành phần thuộc 17 trụ cột phân loại theo 5 nhóm chỉ số.